Các nội dung xây dựng đời sống văn hóa

                          Các nội dung xây dựng đời sống văn hóa

1.  Xây dựng cơ sở vật chất cho các hoạt động văn hóa

Nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn cũng từng nhận định rằng: nếu coi văn hóa là tổng thể thì môi trường văn hóa là một phần của tổng thể ấy bao quanh con người trong một không gian và thời gian nhất định. Đời sống văn hóa là sự chiếm lĩnh của con người đối với môi trường văn hóa thông qua các hoạt động cụ thể để từ đó hình thành nhân cách. Mỗi cá nhân có một đời sống văn hóa riêng. Tuy nhiên, đời sống văn hóa cá nhân khi đi theo cùng một xu hướng thì sẽ hình thành đời sống văn hóa cộng đồng. Cũng theo ông, môi trường văn hóa có hai loại là môi trường văn hóa tinh thần và môi trường văn hóa vật chất. Trong môi trường văn hóa tinh thần có hai khía cạnh được ông nhắc tới, đó là các mối quan hệ giao tiếp và các chuẩn mực và giá trị. Trong môi trường văn hóa vật chất thì bao gồm cảnh quan và thiết chế văn hóa.

Bản thân chúng tôi cho rằng hệ thống các thiết chế văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển; nó đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân. Đó là môi trường để đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội. Nghĩa là khi nói đến xây dựng môi trường văn hóa, chính là việc xây dựng các thiết chế văn hóa.

Bên cạnh các thiết chế văn hóa, cảnh quan văn hóa là những sản phẩm tồn tại trong quan hệ tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội bao gồm các thắng cảnh tự nhiên. các kiến trúc, công trình xây dựng… Qua kiến trúc, cảnh quan môi trường…ít nhiều có thể thấy được đời sống văn hóa của dân cư. Tuy chỉ là không gian vật chất do con người tạo ra nhưng cảnh quan văn hóa lại có tác động nâng đỡ, điều chỉnh, giám sát hành vi con người. Bên trong những cảnh quan chứa đựng những chuẩn mực của cộng đồng cũng như thấm đượm sự lan tỏa của các giá trị văn hóa.

Chính vì vậy, khi nghiên cứu đời sống văn hóa cộng đồng nói chung, chúng ta cần xem xét đầy đủ những yếu tố cấu thành của nó trong mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó chủ thể đóng vai trò xây dựng và đối tượng xây dựng quyết định đời sống văn hóa của cộng đồng sinh viên một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh của đời sống văn hóa cộng đồng. Các thiết chế văn hóa này chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo, thưởng thức, đồng thời là nơi diễn ra quá trình chuyển tải những giá trị văn hóa tới cộng đồng.

Đại từ điển Tiếng Việt quan niệm thiết chế như “thể chế”, được “lập nên” hay “tạo dựng nên”. Thiết chế văn hóa có cả phần hữu hình và vô hình; có phần cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng và cả phần về tổ chức bộ máy vận hành, tổ chức hoạt động, cơ chế, chính sách. Trong trường hợp này thiết chế còn được hiểu như thể chế thông qua vai trò điều hành nhịp nhàng cả 3 khâu Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và vai trò làm chủ của nhân dân nhất là trong sáng tạo và tổ chức các hoạt động văn hóa ở cơ sở.

Một thiết chế văn hóa được coi là hoàn chỉnh phải đảm bảo đủ 4 điều kiện: cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị...); bộ máy tổ chức (con người); hệ thống biện pháp (thể chế, luật lệ...); kinh phí để vận hành hệ thống. Một số thiết chế văn hóa tiêu biểu như là: nhà truyền thống, nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, bảo tàng, sân vận động, rạp hát, rạp chiếu phim, công viên văn hóa, các cơ quan thông tin đại chúng… Đây là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh đời sống văn hóa cộng đồng[1].

2. Tổ chức các hoạt động văn hóa

*Sự cần thiết phải tổ chức các hoạt động văn hoá.

Tổ chức các hoạt động văn hóa phải làm sao có được sự định hướng giá trị cho thanh niên, sinh viên.

Tác giả Bùi Bích Phượng, trong luận văn Thạc sĩ “Xây dựng đời sống văn hóa cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội” năm 2018, lập luận rằng nội dung tổ chức các hoạt động văn hóa, trước hết phải ở việc xây dựng nhóm, tập thể để hoạt động văn hóa.

Tác giả cho rằng, để tạo ra được đời sống văn hóa cho một cộng đồng, trước hết là phải tạo ra được nhóm và tập thể để hoạt động văn hóa. Đây chính là thành tố chính để tạo nên một môi trường, không gian văn hóa qua các hoạt động của con người, nhóm người, tập thể.

Văn hóa mang tính đặc hữu của con người, được con người sáng tạo và phát triển, điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của văn hóa trong đời sống xã hội. Con người có sự ảnh hưởng lẫn nhau, tương tác và hỗ trợ nhau trong tư duy, hoạt động về văn hóa, đồng thời đây cũng là nền tảng để tạo dựng các nhóm người và tập thể để cùng xây dựng đời sống văn hóa.

Tổ chức các hoạt động văn hóa là nhầm đáp ứng những nhu cầu văn hóa của nhân dân. Hoạt động văn hóa đa dạng giúp con người phát huy được tính sáng tạo, lưu giữ, tiêu dùng và quảng bá những giá trị văn hóa, nâng cao khả năng sản sinh, vận động và lan tỏa những giá trị trong đời sống. Xây dựng các hoạt động văn hóa có thể giúp các cá nhân liên kết với cộng đồng, đưa những hoạt động văn hóa theo hướng xã hội hóa, lành mạnh, phong phú. Các hình thức tổ chức hoạt động văn hóa rất đa dạng. Sau đây là những hình thức phổ biến nhất:

- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, trong đó có giáo dục tư tưởng, giáo dục đạo đức, giáo dục tri thức.

- Tổ chức các hoạt động thể nghĩa cử ( đền ơn, đáp nghĩa)

- Tổ chức các hoạt động nghệ thuật. 

Theo cách hiểu như trên thì xây dựng đời sống văn hóa của sinh viên sẽ bao gồm những hoạt động phục vụ cho đời sống vật chất, đời sống tinh thần, tư tưởng, đời sống xã hội để hướng tới những giá trị tốt đẹp trong con người sinh viên Việt Nam nói chung.

3. Huy động và sử dụng các nguồn lực để xây dựng đời sống văn hóa

Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa, chúng ta cần đề cao việc sử dụng nguồn lực con người và cơ sở vật chất cũng như tài chính. Việc sử dụng một cách đồng bộ và có hiệu quả các nguồn lực này sẽ giúp cho công tác xây dựng đời sống văn hóa sinh viên đạt được nhiều hiệu quả hơn.

Nguồn lực con người được hiểu là tổng thể những tiềm năng, năng lực của mỗi cá nhân và cộng đồng đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh để thúc đẩy xã hội phát triển. Nguồn lực con người bao gồm cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.

Trong các chương trình tập huấn cán bộ quản lí sinh viên tại cơ sở giáo dục mà chúng tôi đang công tác thì “Nguồn nhân lực con người” thường được đặt trong mối quan hệ với những nguồn lực khác. Trong đó, các cán bộ quản lí cần phải có sự hiểu biết về những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê nin trong việc khẳng định vai trò to lớn của con người đối với sự phát triển của xã hội như: con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, con người là yếu tố quan trọng nhất trong lực lượng sản xuất.

Vai trò của nguồn lực con người được thể hiện rõ nét ta khi đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác. Cụ thể như: vốn, tài nguyên..... rất cần cho sự phát triển. Song các nguồn lực này tự nó không thể phát huy tác dụng và sẽ cạn kiệt trong quá trình sử dụng. Trong khi đó, nguồn lực con người là chủ thể khơi nguồn tác dụng của các nguồn lực tự nhiên và bản thân nó có thể tái sinh phục hồi phát triển trong khai thác và sử dụng.

Nói thêm về nguồn lực vốn: Nếu chỉ để 1 chỗ thì vốn không thể tự tạo thêm giá trị mới, nó cũng không được sử dụng. Ngược lại nếu con người biết sử dụng nó thì trong quá trình sản xuất nó có thể tạo ra thêm giá trị mới, sinh lợi cho nhà sản xuất.

Hai tác giả Trịnh Việt Tiến và Nguyễn Thị Thu Hằng (Trường Đại học Nội vụ Hà Nội) trong bài viết về “Phát huy nhân tố nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam hiện nay”[2] có đưa ra các nhóm giải pháp để phát huy nguồn nhân lực con người là nhiệm vụ hàng đầu đối với từng quốc gia, các cơ quan tổ chức.

Hai tác giả cũng đưa ra nhóm giải pháp về giáo dục, đào tạo nghề trong việc sử dụng cũng như phát huy nguồn lực con người. Công tác giáo dục và đào tạo con người đối với mỗi quốc gia luôn được quan tâm hàng đầu. Với nước ta, việc nhắm trọng điểm vào lợi thế lao động là vấn đề cần thiết, vì vậy cần phải tiến hành cẩn trọng từ khâu giáo dục kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực cơ bản đến chuyên sâu. Các Ban, Bộ, ngành cần đầu tư nghiên cứu trang bị cho người học kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết để phục vụ nghề nghiệp; cần liên tục điều chỉnh, đổi mới nội dung chương trình, cập nhật và đổi mới phương pháp để truyền tải tốt đến người học, khuyến khích sáng tạo tư duy nghiên cứu trong lĩnh vực đảm nhận, hướng đến làm chủ công nghệ, làm chủ tri thức.

Về vấn đề nguồn lực cơ sở vật chất và tài chính trong xây dựng đời sống văn hóa, thực chất lại là câu chuyện về việc phân bổ nguồn vốn, đầu tư từ các cơ quan nhà nước. Hơn nữa nó còn ở vấn đề là làm sao để có thể khai thác hiệu quả nguồn lực đó. Thực chất vấn đề vật lực và tài lực đều có sự quy định và những chủ trương chặt chẽ từ phía nhà nước.

Nói như vậy để thấy rằng tác động của cơ chế quản lí với nguồn lực vật chất và tài chính trong cơ chế quản lí và xây dựng đời sống văn hóa hầu như là một định đề lớn mà chúng ta bắt buộc phải tuân thủ. Tuy nhiên vấn đề sẽ trở nên linh hoạt hơn trong việc phân bổ, sử dụng cụ thể đối với từng cơ sở đào tạo, giáo dục mà đặc biệt là trong 2 bối cảnh lớn là sự mở rộng giao lưu hợp tác với các tổ chức giáo dục quốc tế và chính sách tự chủ của chính phủ. 

4. Kiểm tra đánh giá và thi đua khen thưởng

Hoạt động kiểm tra, đánh giá và thi đua và tổ chức khen thưởng là một vấn đề luôn nhận được sự quan tâm không chỉ của các nhà hoạt động giáo dục mà hiển nhiên còn là một vấn đề văn hóa, bởi lẽ suy đến cùng nó cũng chỉ phục vục cho mục tiêu làm sao để xây dựng được đời sống văn hóa cho sinh viên.

Năm 2006, GS Gerhard de Haan (thuộc trường Đại học Frei Berlin, chủ tịch Ủy ban Quốc gia Đức) khi, tham dự hội thảo khoa học của Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, đã phân tích rất rõ trong bài viết “Học tập tính phát triển bền vững - thập niên liên hợp quốc- giáo dục vì sự phát triển bền vững (2005-2014) ở Đức”.

Trong đó hội thảo này, GS đã nêu lên những vấn đề về phát triển giáo dục bền vững: “Phát triển bền vững là một quá trình chuyển đổi xã hội liên quan đến tất cả mọi người và phải được trải nghiệm tại chỗ bởi mỗi người”. “Sự cam kết và tham gia thật sự của một nhóm xã hội” và với nó “Những hình thức mới của sự tham gia” đã được nêu trong Agenda 21 – Chương trình nghị sự 21  (UNICED 1992) như là những tiền đề cho phát triển bền vững. Điều này có giá trị đối với mỗi cá nhân, một công dân tại chỗ cũng như đối với các thiết chế xã hội của từng nước. Nhưng cam kết có sức thuyết phục và sự tham gia có hiệu quả không phải tự nó có được và cũng không thể bổ từ trên xuống. Như giáo sư đã khẳng định, đó là một nhiệm vụ giáo dục nhằm đem lại cho con người khả năng tổ chức, tiếp tục phát triển một xã hội mang sức sống tương lai và là con đường đi đến phát triển bền vững thông qua giáo dục.

Điều đó đồng nghĩa với việc tất cả các hoạt động tổ chức đánh giá thi đua, những phương hướng và giải pháp nâng cao đời sống văn hóa của sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên của trường Đại học Sân khấu  - Điện ảnh Hà Nội, nói riêng cũng không nên nằm ngoài phương hướng mục tiêu đó -mục tiêu giáo dục bền vững.

Bài phân tích này của GS Gerhard de Haan cung cấp một cái nhìn bao quát về giáo dục, nhưng quan trọng hơn, cung cấp một tiêu chuẩn phổ quát cho việc xây dựng các hoạt động văn hóa đời sống cho sinh viên – những chủ thể không được phép tách rời khỏi sứ mệnh giáo dục và được giáo dục. Tầm nhìn toàn cầu của Thập niên thế giới Giáo dục vì phát triển bền vững đã được UNESCO định nghĩa như là ý định ” mở ra cho tất cả mọi người cơ hội giáo dục, cho phép họ tiếp thu được các tri thức và giá trị cũng như học được các phương thức, hành vi và phong cách sống cần thiết cho một tương lai đáng sống và sự thay đổi xã hội một cách tích cực” (Xem UNESCO 2005).

Tính chất quan trọng không thể bàn cãi của xây dựng đời sống văn hóa sinh viên phải gằn liền với giáo dục. Đến đây, chúng ta, cần phải phân tích tiếp về thi đua và khen thưởng.

Thi đua có thể hiểu là mọi người tự nguyện cùng nhau đem hết tài năng, sức lực nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong các hoạt động hay công việc chung của cộng đồng xã hội. Có thể nói thi đua là đòn bẩy mạnh mẽ của tiến bộ kinh tế xã hội, là trường học giáo dục chính trị lao động và đạo đức cho nhân dân lao động. Chức năng chủ yếu của thi đua xã hội chủ nghĩa là nâng cao hiệu suất trong sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác của đời sống xã hội. Từ thực tiễn, có thể hiểu khen thưởng là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đánh giá thành tích xuất sắc trong công việc của cá nhân, tổ chức dưới hình thức nhất định (tinh thần, vật chất...) phù hợp các yêu cầu của một bối cảnh, giai đoạn lịch sử cụ thể.

Giữa thi đua và khen thưởng có mối quan hệ mật thiết: một là, khen thưởng là đánh giá kết quả của thi đua và là nhân tố thúc đẩy phong trào thi đua phát triển; hai là, khen thưởng phải gắn với thực hành phong trào thi đua yêu nước và nhiệm vụ chính trị của đất nước, từng địa phương, từng đơn vị; ba là, khen thưởng đúng kịp thời sẽ thúc đẩy, mở đường cho phong trào thi đua sôi nổi, thiết thực; b.ốn là, thi đua là động lực thúc đẩy cá nhân, cộng đồng hoàn thành nhiệm vụ và là cơ sở cho việc khen thưởng.



[1]Tham khảo từ khung chương trình Bồi dưỡng chuyên sâu về văn hóa cơ sở và đời sống văn hóa năm 2018 của Bộ văn hóa thể thao du lịch

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch