CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ/ Dẫn luận ngôn ngữ học

  

CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGÔN NGỮ

Dưới đây là những câu hỏi phổ biến khi học chương 1 môn DLNNH

(Bài viết chỉ mang tính chất tham khảo; được tham khảo từ nhiều nguồn giáo trình, sách; ppt dạy học của GV và từ các trang học thuật khác)

                                                        - KIMRIN -

1) Ngôn ngữ sẽ thế nào nếu không có tính võ đoán?

Vì hiện thực của đời sống là đa dạng và vô cùng phong phú nên mối liên hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện ở các từ và các yếu tố ngôn ngữ khác cần thiết phải được trừu tượng hoá đến mức là võ đoán (Arbitrariness).

Chính nhờ tính võ đoán này mà các kí hiệu ngôn ngữ có thể được sắp xếp theo các trục dọc (hệ hình) khác nhau của hình thức để tạo nên tính hệ thống của ngôn ngữ. Cũng nhờ tính võ đoán mà ngôn ngữ có tính hình thức. Như vậy nếu đánh mất tính võ đoán thì ngôn ngữ sẽ mất đi tính hệ hình cũng như đánh mất đi hình thức.

Mặc khác ngôn ngữ cũng đánh mất đi sự phong phú. Có thể vốn ngôn ngữ chỉ còn lại 1 vài hệ thống từ vựng mà vốn dĩ bản thân nó có tính võ đoán thấp, ví dụ như từ tượng thanh (Onomatopoeia), từ tượng hình (hieroglyph) và từ cảm than (Exclamative)

2) Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.

Con người có nhiều hệ thống kí hiệu để giao tiếp (cử chỉ, điệu bộ, tín hiệu giao thông, kí hiệu toán học, tín hiệu hàng hải…) nhưng hệ thống kí hiệu để giao tiếp quan trọng nhất là hệ thống ngôn ngữ. Chức năng giao tiếp gồm: chức năng hàn huyên, cầu khiến (command), thông thông báo, hỏi…).

Chức năng này liên quan đến thực tế ngôn ngữ là một phương tiện truyền thông giữa các cá nhân , cho phép một người thể hiện suy nghĩ của họ và truyền cho người kia, và người kia, để hiểu họ và phản ứng. Trong thực tế, ngôn ngữ phát sinh chính xác cho truyền thông, tức là giao tiếp, trao đổi thông tin. Chức năng giao tiếp là do tính quen thuộc của ngôn ngữ.

Trong chức năng giao tiếp, có thể phân biệt một chức năng cảm xúc, giải thích nó bằng thực tế là với sự trợ giúp của ngôn ngữ có thể chuyển tải cảm xúc, ham muốn, trạng thái. Động vật mà không thể phát âm được từ ngữ giao tiếp chính xác để truyền đạt cảm xúc. Các chức năng cảm xúc của bài phát biểu của chúng tôi, tự nhiên, là phức tạp hơn trong động vật. Như vậy, chức năng giao tiếp bao hàm việc thực hiện truyền thông thông qua giao tiếp, truyền thông, ảnh hưởng và biểu hiện cảm xúc, trạng thái và cảm xúc.

3) Bạn tin vào giả thuyết nào về nguồn gốc ngôn ngữ

Câu này chị chỉ cần lựa chọn và giải thích theo sở thích của mình

4) Tại sao nói ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt?

 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt

 - chỉ sinh ra và phát triển trong xã hội loài người

- không phải là hiện tượng của cá nhân tôi / cá nhân anh mà là của chúng ta

- được giữ gìn và phát triển trong cộng đồng

- không mang tính di truyền

- không mang tính giai cấp

5) Chứng minh rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người và là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.

Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin nhằm nhận biết xác lập và tác động lẫn nhau trong mối quan hệ giữa người với người để đạt được mục đích nhất định

Các phương tiện con người dùng để giao tiếp

· Cử chỉ: lắc đầu, gật đầu, nhún vai, nheo mắt, vẫy tay, chỉ tay,.. ngôn ngữ cử chỉ thật nghèo nàn và hạn chế. Có những cử chỉ chỉ 1 số ng hiểu với nhau, nhiều khi ý nghĩa cử chỉ không rõ ràng dẫn đến bị hiểu nhầm. Những ký hiệu và dấu hiệu khác nhau như: đèn tín hiệu giao thông, ký hiệu toán học,..thì chỉ được áp dụng trong những phạm vi hạn chế, chứ không phải là phương tiện giao tiếp toàn xã hội. Bản thân những dấu hiệu ký hiệu như thế muốn hiểu được vẫn phải dùng ngôn ngữ thành tiếng để giải thích.

· Âm nhạc, hội họa điêu khắc có khả năng rất vĩ đại nhưng vẫn bị hạn chế. Chúng không thể truyền đạt khái niệm, tư tưởng tình cảm chính xác và rõ ràng. Mỗi người sẽ cảm nhận 1 cách khác nhau. Vì vậy không thể dùng chúng làm phương tiện giao tiếp thay cho ngôn ngữ.

Vì vậy, có thể nói: Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người vì:

Về mặt Khái quát: chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác có thể hiểu được nguyện vọng, tư tưởng tình cảm của mình. Có thể hiểu lẫn nhau, con người có thể cùng hợp tác sản xuất, chinh phục thiên nhiên, xã hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên.

- Ngôn ngữ là 1 công cụ đấu tranh, sản xuất. nó có thể thể hiện hoạt động sản xuất, có thể giúp người ta giành lấy tri thức cần thiết để đấu tranh sản xuất, có thể giúp người ta cùng hợp tác sản xuất, do đó thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển.

- Ngôn ngữ không có tính giai cấp nhưng lại là công cụ đấu tranh giai cấp. các giai cấp khác nhau sd ngôn ngữ để đấu tranh với nhau. Đảng và nhà nước ta luôn chủ trương dùng ngôn ngữ dân tộc để tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Cách mạng, tập hơp quần chúng để đấu tranh với kẻ thù. Trên mặt trận chính trị và ngoại giao thì vũ khí đấu tranh không phải là súng đạn mà là ngôn ngữ.

6) Phân biệt ngôn ngữ – lời nói – hoạt động nói năng.

Ngôn ngữ và lời nói là hai công cụ giao tiếp khác nhau. Ngôn ngữ là công cụ để chúng ta viết, hiểu, v.v. và lời nói là công cụ giao tiếp được sử dụng để giao tiếp bằng lời nói với người khác.

Có thể nói như sau:

 1. Ngôn ngữ là sự giao tiếp của cảm xúc và suy nghĩ thông qua một hệ thống các tín hiệu cụ thể như âm thanh, giọng nói, biểu tượng bằng văn bản và cử chỉ. Tuy nhiên, lời nói là hành động thể hiện hoặc khoa mô tả cảm xúc và suy nghĩ hoặc nhận thức bằng lời nói, một cái gì đó nói hoặc giao tiếp bằng giọng nói.

2. Ngôn ngữ có thể là ngôn ngữ của con người, ngôn ngữ ký hiệu hoặc ngôn ngữ máy tính sử dụng mã trong khi lời nói là một khái niệm duy nhất. Đây là quá trình vật lý được sử dụng để diễn đạt bằng ngôn ngữ.

3. Ngôn ngữ thể hiện ý tưởng cần được truyền đạt trong khi lời nói là quá trình cho thấy thông điệp cần được truyền đạt như thế nào.

7) Tại sao nói ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt?

Để thấy được ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, ta cần so sánh tín hiệu thông thường và tín hiệu ngôn ngữ:

-Khái niệm hệ thống: là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể.

-Khái niệm về tín hiệu: là 1 sự vật (hoặc 1 tính chất sự vật, 1 hiện tượng) kích thích vào giác quan của con người làm người ta tri giác được và lí giải, suy diễn tới 1 cái j đó nằm ngoài sự vật ấy.

+Có 2 loại tín hiệu là: *tín hiệu tự nhiên và *tín hiệu nhân tạo gồm -tín hiệu thông thường và tín hiệu ngôn ngữ

- So sánh tín hiệu ngôn ngữ với tín hiệu khác:

1. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu phức tạp bao gồm các yếu tố đồng loại và không đồng loại với số lượng không xác định. Thường được con người phát triển và bổ sung thêm.

Ví dụ: tôi là sinh viên. Không đồng loại vì từ sinh là hình vị của từ sinh viên. Yếu tố đồng loại là 3 từ tôi, là, sinh viên.

2. Vì ngôn ngữ bao gồm các yếu tố không đồng loại cho nên nó tạo ra nhiều hệ thống và hệ thống con khác nhau. Mỗi hệ thống con như vậy bao gồm những yếu tố tương đối đồng loại. ví dụ: hệ thống từ vựng có thể chia ra hệ thống từ đơn và hệ thống từ ghép.

3. Các đơn vị ngôn ngữ làm thành những cấp độ khác nhau. Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan hệ tôn ti, tức là các đơn vị bậc thấp "nằm trong" các đơn vị bậc cao và các đơn vị bậc cao "bao gồm" các đơn vị bậc thấp. Thí dụ: câu bao gồm các từ, từ bao gồm các hình vị, hình vị bao gồm các âm vị.

4. So sánh về tính đa trị: *tín hiệu ngôn ngữ: 1 cái được biểu hiện tương ứng với nhiều cái được biểu hiện hay nhiều cái được biểu hiện chỉ tương ứng với 1 cái được biểu hiện .Ví dụ: Cùng là hành động đưa thức ăn vào miệng thì chúng ta có những từ sau để biểu đạt : ăn, hốc, xơi, chén, dùng bữa,với mỗi từ tuy cùng biểu đạt một nghĩa nhưng sắc thái biểu đạt là khác nhau.

*Tín hiệu thông thường thì không có tính đa trị: tương ứng 1-1 ( một – một) với cái biểu hiện và cái được biểu hiện. ví dụ là tín hiệu đèn giao thông với 3 màu xanh, vàng, đỏ tương ứng với các phương tiện được đi, đi chậm và dừng lại.

5. so sánh về tính độc lập tương đối: ngôn ngữ: có tính chất xã hội, có quy luật để phát triển nội tại của mình, không lệ thuộc vào ý kiến của cá nhân. Tuy nhiên, con người vẫn có thể tạo điều kiện cho ngôn ngữ phát triển theo những hướng nhất định. Ví dụ: để gọi tên một sự vật như quyển vở chẳng hạn, thì nó tồn tại như vậy không phụ thuộc vào cá nhân nào, không ai có thể giải thích vì sao lại gọi như vậy và cũng không 1 cá nhân nào có thể thay đổi được nó.

6.Giá trị đồng đại và giá trị lịch đại của ngôn ngữ: được sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu nào đó của con người trong một giai đoạn nhất định. Ngôn ngữ vừa có giá trị đồng đại vừa có giá trị lịch đại. Bất cứ ngôn ngữ nào cũng là sản phẩm của quá khứ để lại.

ví dụ: ngày nay vợ còn được gọi là bà xã, ngày xưa gọi là nương tử

8) Trình bày các mối quan hệ chủ yếu giữa các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ

Có hai loại quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ:

-         Quan hệ tuyến tính ( quan hệ ngang): là các mối quan hệ kết nối các đơn vị ngôn ngữ thành chuỗi khi đi vào hoạt động giao tiếp. Nó liên kết các yếu tố lại để tạo thành những đơn vị lớn hơn: liên kết các âm vị lại để tạo thành hình vị, liên kết các hình vị để tạo thành từ, liên kết các từ để tạo thành câu, liên kết các câu để thành văn bản. trục tuyến tính chỉ có những đơn vị đồng loại: quan hệ giữa âm vị với âm vị, hình vị với hình vị, từ với từ,

Ví dụ: Nam là người tốt bụng Nam xét ví dụ trên thì thấy , nếu xét về trật tự hình vị , âm vị thì sẽ phải theo 1 trình tự nhất định là N A M , chứ ko dc phép là NMA , hình vị người là N G Ư Ơ I , chứ ko thể là I O U N G, xét quan hệ câu là Nam là người tốt bụng, chứ ko dc đảo trật tự là bụng tốt người là Nam. Câu không có nghĩa

-         Quan hệ liên tưởng ( quan hệ dọc): là quan hệ giữa các yếu tố cùng nhóm chức năng, ngữ nghĩa, có thể thay thế được cho nhau trong chuỗi lời nói bằng 1 loạt các yếu tố đồng loại. mỗi vị trí được quy định bởi chức năng và quan hệ của yếu tố ấy với yếu tố khác. Cho nên vị trí nào càng có nhiều hạn chế bao nhiêu thì số yếu tố có thể dùng ở vị trí đó ngày càng ít bấy nhiêu.

Ví dụ: cô ấy học giỏi môn Toán . Ở vị trí của từ cô ấy có thể thay bằng anh ấy, chị ấy, hắn ta, hay các tên Người: Nam, Mai,.. Ở vị trí giỏi có thể thay bằng siêu, tốt.. ở vị trí Toán có thể thay bằng : tin, văn, tiếng anh,..

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch