Khái niệm: Xây dựng đời sống văn hóa

                                          Xây dựng đời sống văn hóa

Trước khi tiến hành định nghĩa xây dựng đời sống văn hóa, chúng tôi thử tìm hiểu một vài quan niệm liên quan đến khái niệm này.

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta được đặt ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1981). Đây là chủ trương quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng văn hóa, lối sống và con người phù hợp với đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nói về chủ trương này, Văn kiện Đại hội V của Đảng khẳng định: “Một nhiệm vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hóa” (trang 257, Nguyễn Viết Chức (2011), Xây dựng tư tưởng, đạo đức lối sống và đời sống văn hóa ở Thủ đô Hà Nội, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội).

Trong tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 8, tháng 6 năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Cần, với bài viết mang tựa đề “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về xây dựng môi trường văn hóa”; tác giả đã có sự phân biệt về môi trường văn hóa và đời sống văn hóa. Thông qua đó, quan điểm khoa học về “đời sống văn hóa” cũng được tác giả phân tích rất rõ. Theo Nguyễn Văn Cần đời sống văn hóa bao gồm các “lĩnh vực hoạt động sống” của con người và các dạng thức hoạt động khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người. Cũng theo tác giả, khi nói tới đời sống văn hóa người ta “nhấn mạnh tới một lĩnh vực đặc thù của đời sống xã hội, quá trình sản xuất, tái sản xuất ra các giá trị văn hóa, cũng như sự tổng hòa của các hoạt động xã hội: hoạt động tư tưởng, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, tín ngưỡng” (Nguyễn Văn Cần, 2014)

Nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn trong sự trình bày về khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa xuất bản năm 2017. Ông có sự phân biệt rất rõ về đời sống và đời sống văn hóa. Ông viết: “Đời sống văn hóa là kết quả của hoạt động tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần con người, thể hiện chất lượng sống và góp phần hình thành nhân cách” (Trần Đức Ngôn, 2017).

Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là xây dựng mạng lưới thiết chế văn hóa, tạo nên một cảnh quan văn hóa, cảnh quan ấy mang đặc trưng kiến trúc của thời đại mới vừa dân tộc, vừa hiện đại, góp phần xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế chung của đất nước và mỗi địa phương.

Bản thân học viên cho rằng, “xây dựng đời sống văn hóa trước hết là hoạt động của chủ thể văn hóa để có thể đạt được những mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn mà do bản thân chủ thể đó cùng đội ngũ quản lí văn hóa đề ra, phù hợp với mục tiêu chung của đất nước”.

Chủ thể văn hóa đó có thể là là một cá nhân – tức một cá thể văn hóa, mà ở đó, anh ta có quyền tự do lựa chọn cách thức xây dựng đời sống văn hóa cho riêng mình. Ví dụ, ghi danh vào lớp học Tiếng Anh hay tiếng Pháp; lựa chọn môn thể thao nào đó mà anh ta yêu thích, mà anh ta nghĩ rằng có thể thỏa mãn nhu cầu thể dục thể thao, rèn luyện thân thể.

Chủ thể văn hóa ở góc độ lớn hơn, có thể là một tập thể, một đội, nhóm, tổ chức nào đó, mà ở đó, người lãnh đạo nhóm có thể dựa trên những quy định chung về xây dựng đời sống văn hóa của cơ quan chủ quản tiến hành các hoạt động văn hóa thõa mãn những mục tiêu chung của cơ quan chủ quản lớn hơn. Cuối cùng là ở cấp độ đơn vị đất nước. Mỗi quốc gia có quyền tự định đoạt và đưa ra các chính sách xây dựng đời sống văn hóa mà theo họ nó là đúng đắn và tiến bộ.

Như đã nói mọi hoạt động văn hóa phải hướng tới mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian cụ thể nào đó. Mục tiêu đó có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn. Có thể chỉ là chiến thắng trong một kì thi hát có quy mô 10 người. Nhưng cũng có thể là mục tiêu 1 năm về việc rèn luyện phân loại rác cho một cụm dân cư nào đó, và cũng có thể là 50 năm về xây dựng lối sống học thật, sống thật cho thế hệ trẻ Việt Nam.

Để làm được điều đó, cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng giữa chủ thể quản lí văn hóa và chủ thể tham gia hoạt động văn hóa. Cần phải chắc rằng, những chính sách, những quy định phải phát huy hết tiềm lực giữa đôi bên cũng như sự tán thành của hai phía.

Trên tinh thần đó, chúng tôi đề xuất khái niệm về xây dựng đời sống văn hóa như sau: “Xây dựng đời sống văn hóa là hoạt động phối hợp có hiệu quả giữa chủ thể tham gia xây dựng đời sống văn hóa và chủ thể quản lí văn hóa để có thể đạt được những mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn mà do bản thân các thân chủ thể đó đề ra, phù hợp với mục tiêu chung của đất nước”

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch