Đời sống văn hoá là gì?

                                                      Đời sống văn hoá là gì


Khái niệm đời sống liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của văn hóa trong quá trình vận động biến đổi của nó. Ở nước ta, khái niệm “đời sống văn hóa” thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong ngành Văn hóa từ năm 2004. Tuy nhiên giữa hai khái niệm “đời sống văn hóa” và “đời sống văn hóa cơ sở” cũng có sự phân biệt nhất định. Khái niệm đời sống văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.

Ví dụ, năm 2003, trong cuốn Giáo trình lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng (dùng cho hệ lý luận chính trị cao cấp) do tập thể tác giả Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, trong đó các tác giả cho rằng “đời sống văn hoá” là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người.

Trong Tài liệu bồi dưỡng chuyên sâu về văn hóa cơ sở cho công chức văn hóa - Xã hội xã (Ban hành theo Quyết định số 3714 /QĐ-BVHTTDL ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)  đề xuất hai cách hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Đời sống văn hóa là sự thể hiện sinh động nhất phương thức các hoạt động sinh tồn và giao tiếp ứng xử của con người với môi trường sống (cả cái tự nhiên và cái xã hội) để đáp ứng nhu cầu. Đời sống văn hóa được giới hạn là tổng thể những hoạt động tinh thần của con người trong quá trình sáng tạo, lưu giữ, truyền bá và thưởng thức những giá trị văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hoàn thiện con người.

Nhà nghiên cứu Mai Luân  thì cho rằng cho rằng “Đời sống văn hóa bao trùm lên toàn bộ đời sống con người”, vì vậy có nghĩa là đời sống văn hóa cũng là toàn bộ đời sống xã hội.

Trong luận văn Thạc sĩ “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho học sinh Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam” của Nguyễn Anh Tuấn năm 2016; tác giả không đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu Mai Luân. Tác giả cho rằng: luận điểm này có vẻ hợp lý, song việc đồng nhất đời sống con người với đời sống văn hóa là chưa thể hiện cái nhìn toàn diện.

Theo quan điểm  GS Hoàng Vinh: “đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hoá) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức sinh hoạt văn hóa hiện thực và cả sinh hoạt văn hóa tâm linh”

Theo Trần Ngọc Thêm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” ( Trần Ngọc Thêm, 2008). Trần Ngọc Thêm có sự phân loại cấu trúc của văn hóa bao gồm: Văn hoá tổ chức cộng đồng (gồm văn hoá tổ chức đời sống tập thể và văn hoá tổ chức đời sống cá nhân); văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên (gồm văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên và văn hoá ứng phó với môi trường tự nhiên); văn hoá ứng xử với môi trường xã hội (gồm văn hoá tận dụng môi trường xã hội và văn hoá ứng phó với môi trường xã hội); văn hoá nhận thức (gồm nhận thức về vũ trụ và nhận thức về con người). Theo đó đời sống văn hóa của con người nói chung và sinh viên nói riêng cũng không nằm ngoài những quy luật mang tính hệ thống của văn hóa.

Khái niệm đời sống liên quan chặt chẽ và là biểu hiện bản chất của văn hóa trong quá trình vận động biến đổi của nó. Ở nước ta, khái niệm “đời sống văn hóa” thường gắn với khái niệm “đời sống văn hóa cơ sở”, khái niệm này được xuất hiện và sử dụng trong ngành Văn hóa từ năm 2004. Tuy nhiên giữa hai khái niệm “đời sống văn hóa” và “đời sống văn hóa cơ sở” cũng có sự phân biệt nhất định. Khái niệm đời sống văn hóa cũng được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau.

 Ví dụ, năm 2003, trong cuốn Giáo trình lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng (dùng cho hệ lý luận chính trị cao cấp) do tập thể tác giả Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn, trong đó các tác giả cho rằng đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm tổng thể những yếu tố hoạt động văn hoá vật chất và tinh thần, những tác động qua lại lẫn nhau trong đời sống xã hội để tạo ra những quan hệ có văn hoá trong cộng đồng, trực tiếp hình thành nhân cách và lối sống của con người.

Nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn trong sự trình bày về Khái niệm và cấu trúc đời sống văn hóa[1] xuất bản năm 2017. Ông có sự phân biệt rất rõ về đời sống và đời sống văn hóa.  Hiểu một cách ngắn ngọn, đời sống của con người và đời sống của các sinh vật khác là quá trình tồn tại của một cơ thể sống. Mọi sinh vật, trong đó có con người đều có quá trình sống trong một khoảng thời gian nhất định. Vậy “ đời sống” là chỉ một quá trình tương tác với môi trường và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu sống -một trong những nhu cầu căn bản và thiết yếu nhất của sinh vật. Chúng ta cũng có thể tham khảo thêm học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow để thấy rằng ở tầng đáy của tháp -tầng căn bản nhất chúng ta chính là một loài sinh vật với yêu cầu về thức ăn và bạn tình.

Nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn viết: “ Con người khác với các loài động vật ở chỗ không chỉ có đời sống sinh học. Nét đặc thù của đời sống mỗi con người là sống không tách rời mối quan hệ với những người khác. Động vật trong tự nhiên cũng có những mối quan hệ với nhau (quan hệ sinh sản, quan hệ bầy đàn, quan hệ đấu tranh sinh tồn…) nhưng đó vẫn là những mối quan hệ tự nhiên, được thực hiện thông qua những phản xạ tự nhiên có hoặc không có điều kiện; còn đối với con người, đây là những mối quan hệ xã hội, tức những mối quan hệ được dẫn dắt bằng ý thức. Vì vậy, con người muốn tồn tại, phải tham gia vào hai loại hoạt động: hoạt động sinh học và hoạt động xã hội. Các hoạt động sinh học bảo đảm sự sống cho con người (ăn, uống, thức, ngủ, đi lại, suy nghĩ, nói năng).” (Trần Đức Ngôn, 2017). Căn bản, ông nhấn mạnh đến tính tương tác với môi trường, xã hội một cách có chủ đích – điều mà theo ông, sinh vật khác loài người không thể làm được. Trần Đức Ngôn cũng đi dến khái quát thành khái niệm mà chúng tôi rất tâm đắc và cho rằng nó đầy đủ và phù hợp với luận văn.

“Đời sống văn hóa là kết quả của hoạt động tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần con người, thể hiện chất lượng sống và góp phần hình thành nhân cách” (Trần Đức Ngôn, 2017).

Tài liệu bồi dưỡng chuyên sâu về văn hóa cơ sở cho công chức văn hóa - Xã hội xã (Ban hành theo Quyết định số 3714 /QĐ-BVHTTDL ngày 03 tháng 10 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)[2]

đề xuất hai cách hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Tài liệu diễn giải rằng “đời sống văn hóa” hiểu theo nghĩa rộng: về bản chất trước hết là đời sống của con người, và nói một cách khác đời sống con người về bản chất là một đời sống văn hóa. Đời sống văn hóa là sự thể hiện sinh động nhất phương thức các hoạt động sinh tồn và giao tiếp ứng xử của con người với môi trường sống (cả cái tự nhiên và cái xã hội) để đáp ứng nhu cầu. Còn theo nghĩa hẹp thì hiểu bản chất đời sống văn hóa là bản chất đời sống con người về mặt tinh thần. Đời sống văn hóa được giới hạn là tổng thể những hoạt động tinh thần của con người trong quá trình sáng tạo, lưu giữ, truyền bá và thưởng thức những giá trị văn hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển hoàn thiện con người.

Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì khó tránh được các rào cản trong thực hành và quản lý văn hóa, vì dễ đồng nhất đời sống văn hóa với hoạt động sống. Cho nên trước hết, đời sống văn hóa là khái niệm cần phải được nhận thức rất linh hoạt, vì mỗi đời sống văn hóa thường gắn với với các chủ thể và không gian văn hóa nhất định.

Nhà nghiên cứu Mai Luân[3] thì cho rằng  “Đời sống văn hóa bao trùm lên toàn bộ đời sống con người”, vì vậy có nghĩa là đời sống văn hóa cũng là toàn bộ đời sống xã hội. Trong luận văn Thạc sĩ “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho học sinh Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam”, Nguyễn Anh Tuấn (năm 2016); tác giả không đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu Mai Luân. Tác giả cho rằng: luận điểm này có vẻ hợp lý, song việc đồng nhất đời sống con người với đời sống văn hóa là chưa thể hiện cái nhìn toàn diện. Tuy đời sống văn hóa và đời sống con người đều hình thành trên cơ sở đời sống vật chất và đời sống tinh thần nhưng khó có thể đồng nhất đời sống văn hóa với đời sống con người, cũng như khó có thể đồng nhất đời sống vật chất với đời sống văn hóa vật chất; đồng nhất đời sống tinh thần với đời sống văn hóa tinh thần. Bởi vì đời sống vật chất không phải lúc nào cũng bao hàm giá trị văn hóa, đời sống tinh thần cũng vậy. Đời sống văn hóa không chỉ là phép cộng đơn giản của đời sống vật chất và đời sống tinh thần mà là bước phát triển cao của đời sống.

Bản thân học viên, người thực hiện đề tài này lại cho rằng nếu tác giả Nguyễn Anh Tuấn cho rằng “đời sống vật chất không phải lúc nào cũng bao hàm giá trị văn hóa, đời sống tinh thần cũng vậy. Đời sống văn hóa không chỉ là phép cộng đơn giản của đời sống vật chất và đời sống tinh thần mà là bước phát triển cao của đời sống.” thì tác giả lại vô tình đặt phạm trù “văn hóa” lên một trạng thái cao cấp, một bậc thang chỉ xuất hiện sau khi con người có đầy đủ yếu tố vật chất và tinh thần; thì khi ấy mới có “trạng thái văn hóa”. Sự phân tích ấy hoàn toàn không phù hợp với lập luận trước đó của tác giả khi khái niệm về “đời sống văn hóa”.

Chúng tôi tin rằng “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”. Điều đó đồng nghĩa với việc: Khi các chủ thể tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội để tạo ra các giá trị vật chất trong 1 khung không, thời gian nhất định thì chính lúc ấy những giá trị văn hóa cũng đồng thời xuất hiện.

Trong các văn bản tập huấn cán bộ văn hóa địa phương, năm 2018, Bộ Văn hóa Thể Thao và Du Lịch có đề xuất “cấu trúc của đời sống văn hóa” bao gồm 4 thành tố cơ bản sau:

- Chủ thể hoạt động văn hóa;

- Hệ thống các giá trị văn hóa, biểu hiện ở các sản phẩm văn hóa vật

thể và phi vật thể;

- Các thiết chế và cảnh quan, môi trường văn hóa;

- Các hoạt động văn hóa.

Chúng tôi, khi căn cứ vào khái niệm về “đời sống văn hóa” của Trần Đức Ngôn thì dễ dàng nhận thấy cấu trúc hai mặt bao gồm “cấu trúc diện mạo” và “cấu trúc bề sâu”. Chúng ta cần phân tích một cách vô cùng cẩn trọng cấu trúc của đời sống văn hóa, bởi lẽ việc xây dựng đời sống văn hóa sẽ không gì khác hơn việc tạo ra các thành tố tham gia cấu trúc ấy.

Thử phân tích cấu trúc đời sống văn hóa của nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn. Theo ông, cấu trúc bề mặt (diện mạo) có thể được coi là đã bao quát và thể hiện được tương đối đầy đủ thông qua ba hoạt động văn hóa thành ba nhóm: gồm các hoạt động tiếp nhận - hưởng thụ văn hóa; các hoạt động thực hành - truyền bá văn hóa; và các hoạt động sáng tạo văn hóa. Các cấu trúc bề sâu bao gồm các giá trị nhận thức, các giá trị tư tưởng và cuối cùng là các giá trị tình cảm. Ông cũng đi đến kết luận rằng “các yếu tố ở cấp độ sâu tạo nên nhân cách”.

Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng, xây dựng đời sống văn hóa sinh viên suy đến cùng trong phạm vi không gian nhất định mà đặc biệt là sự nhất quán trong tư tưởng và thống nhất trong hành động tại Việt Nam, thì có lẽ chúng ta cần xét đến những tac động to lớn từ chính sách quản lí văn hóa và giáo dục của Đảng và Nhà nước.

Vì vậy cho nên chúng tôi cũng mạnh dạn một lần nữa đề xuất khái niệm đời sống văn hóa từ nhà nghiên cứu Trần Đức Ngôn rằng: “Đời sống văn hóa là kết quả của hoạt động tương tác giữa con người với môi trường văn hóa, tạo nên diện mạo cũng như chiều sâu của đời sống tinh thần con người, thể hiện chất lượng sống và góp phần hình thành nhân cách” (Trần Đức Ngôn, 2017).

 



[1] Tạp chí nghiên cứu văn hóa ; Số 21 - Tháng 9 – 2017 http://dlib.huc.edu.vn/bitstream/123456789/8077/1/can_p001-008.pdf.

[3] Tài liệu thứ cấp từ Luận văn Thạc sĩ “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho học sinh Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam” của Nguyễn Anh Tuấn năm 2016

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch