Tóm tắt Lịch sử các Triều đại phong kiến Việt Nam
Lịch sử các Triều đại phong kiến Việt Nam: TÓM LƯỢC CÁC MỐC THỜI GIAN và NHỮNG ĐIỂM CẦN NHỚ
Trang sử mới của lịch sử Việt Nam được mở ra vào đầu thế kỷ thứ 10 ( từ năm 900 trở đi là thé kỉ thứ 10 nhé các bạn) khi mà các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê ... đã vững chắc, đoàn kết và có đủ sức mạnh để bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước.
Dưới đây là bản tổng kết cùng những điểm nổi bật trong từng thời kì:
Triều đại Ngô: (939 - 965 ); 26 năm với 5 vị Vua; tên nước Vạn Xuân
kinh đô tại Cổ Loa
1. Tiền Ngô Vương - Ngô Quyền (939-944):
2. Dương Bình Vương - Dương Tam Kha (Là em vợ là cướp ngôi) (944-950)
3. Nam Tấn Vương - Ngô Xương Căn (con thứ hai của Ngô Quyền) (950-965)
4. Thiên Sách Vương - Ngô Xương Ngập (Cháu Ngô Quyền) 951-959)
Trong giai đoạn 951 - 959 nước ta có 2 Vua
5. Ngô Sứ Quân - Ngô Xương Xí (965)
Kể từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô năm 944, các nơi không chịu thuần phục,
các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ
quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất
nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt - nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên
trong lịch sử.
Triều Đinh: ( 968 - 980) 12 năm với 2 đời vua có tên Quốc hiệu là Đại Cồ
Việt kinh đô tại Hoa Lư
1. Đinh Tiên Hoàng - Đinh Bộ Lĩnh (968-979)
2. Đinh Phế Đế - Đinh Toàn (979-980)
Đinh Toàn mới lên 6 tuổi, được triều thần đưa lên ngôi
vua. Nhân cơ hội đó nhà Tống cho quân sang xâm lược nước ta. Vì lợi ích của dân
tộc, Thái hậu Dương Vân Nga (vợ của Đinh Tiên Hoàng, mẹ đẻ của Đinh Toàn), thể
theo nguyện vọng các tướng sĩ, đã trao áo "Long Cổn" (biểu tượng của
ngôi vua) cho Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn, tức là Lê Đại Hành.
Tiền Lê: (980 - 1009) 29 năm với 3 đời Vua
Quốc hiệu là Đại Cồ Việt kinh đô tại Hoa Lư
1.
Lê Đại Hành - Lê Hoàn (980-1005)
2. Lê Trung Tông - Lê Long Việt (1005)
3. Lê Ngoạ Triều - Lê Long Đĩnh (1005 - 1009)
Lê Long Đĩnh đã làm việc càn dỡ giết Vua cướp ngôi, thích dâm đãng, tàn bạo,
róc mía trên đầu nhà sư... Do chơi bời trác táng quá Lê Ngoạ Triều làm vua được
4 năm (1005 - 1009) thì mất, thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con tên là Sạ còn bé,
dưới sự đạo diễn của quan Chi Hậu Đào Cam Mộc, triều thần đã tôn Lý Công Uẩn
lên ngôi Hoàng đế
Thời Lý: (1009 – 1225 ) 9 đời Vua, trong 216 năm
1. Lý Thái Tổ - Lý Công Uẩn (1010 – 1028) năm 1010 dời đô về Thăng Long
2. Lý Thái Tông - Lý Phật Mã (1028 – 1054) năm 1054 đổi tên Quốc hiệu
là Đại Việt kinh đô tại Thăng Long
3. Lý Thánh Tông - Lý Nhật Tôn (1054 – 1072)
4. Lý Nhân Tông - Lý Càn Đức (1072 – 1128) - (Quốc tử giám đầu tiên được lập vào
năm 1076 tại Kinh thành Thăng Long)
5. Lý Thần Tông - Lý Dương Hoán (1128 - 1138)
6. Lý Anh Tông - Lý Thiên Tộ (1138 - 1175)
7. Lý Cao Tông - Lý Long Trát (1176 - 1210)
8. Lý Huệ Tông - Lý Sảm (1211 - 1224)
9. Lý Chiêu Hoàng - Lý Phật Kim (1224 - 1225)
Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Huệ Tông bị ép đi
tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Chiêu Thánh (lúc đó mới 7 tuổi)
niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh
(8 tuổi) là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Chiêu Hoàng và Trần Thủ Độ
tung tin là Lý Chiêu Hoàng đã lấy chồng là Trần Cảnh.
Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng mở
hội lớn ở điện Thiên An, trước bá quan văn võ, Chiêu Hoàng cởi hoàng bào mời Trần
Cảnh lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất, dựng lên triều
đại nhà Trần từ đấy.
Đời Trần: (1226 – 1400 ) 175 năm với 12 đời
Vua
1. Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1225 - 1258)
Chiến tranh Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1258
2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1258 - 1278)
3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1279-1293)
Chiên tranh Nguyên Mông lần 2 năm 1285
Chiến trang Nguyên Mông lần 3: năm 1287 - 1288
Năm 1289 đã phong Trần Quốc Tuấn là "Hưng Đạo đại vương". Cách gọi đầy
đủ tước hiệu được phong là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn". Dân
gian và đời sau gọi tắt là "Trần Hưng Đạo"
4. Trần Anh Tông (1293 - 1314)
5. Trần Minh Tông (1314 - 1329)
6. Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
7. Trần Dụ Tông (1341 - 1369)
8. Trần Nghệ Tông (1370 - 1372)
9. Trần Duệ Tông (1372-1377)
10. Trần Phế Đế (1377-1388)
11. Trần Thuận Tông (1388-1398)
12. Trần Thiếu Đế (1398-1400)
Tên huý là Trần Án, 13 tuổi lên kế nghiệp tức là Thiếu Đế. Hồ Quý Ly xưng
là Khâm đức Hưng liệt Đại Vương. Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn - 1400, Hồ Quý
Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại Vương.. Triều Trần kể từ Trần
Thái Tông Đến Trần Thiếu Đế là 12 đời vua, trị vì được 175 năm.
Nhà Hồ (1400 – 1407) 7 năm với 2 đời. Vua đổi tên Quốc hiệu là Đại Ngu
kinh đô tai Tây Đô (Thanh Hóa) (Ngu có nghĩa Yên Vui)
1. Hồ Quý Ly (1400-1401)
2. Hồ Hán Thương (1401-1407)
Năm 1406 Nhà Minh lấy cớ Hồ Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần, đem 80 vạn quân sang
đánh chiếm nước ta. Quân dân nhà Hồ đã quyết liệt chông trả nhưng thất bại.
Ngày 17/6/1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Qúy Ly kết thúc 7 năm ngắn ngủi của
Nhà Hồ.
Thời Hâu trần: ( 1407 - 1414) 7 năm với 2 đời Vua
1. Giản Định Đế - Trần Ngỗi (1407-1409)
2. Trần Trùng Quang - Trần Quý Khoáng (1409-1414)
Tháng 4 năm Giáp Ngọ - 1414, do quân ít không thể chống lại được với quân Minh
đã bắt được Trần Quý Khoáng, Đặng Dung, Nguyễn Suý giải về Trung Quốc, trên đường
đi vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử để tỏ rõ khí phách, nhà Hậu Trần
chấm dứt từ đó.
Thời kỳ Bắc thuộc lần 2.
Sau khi chiếm được Đại Việt, quân Minh chia nước ta thành quận huyện để cai trị.
Chúng bắt nhân dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề, cuộc sống vô cùng cực
khổ. Ngày Mậu Thân, tháng Giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi
nghĩa ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Có quân sư Nguyễn
Trãi dâng sách Bình Ngô nhằm thu phục lòng người, cháu nội của quan Tư đồ Trần
Nguyên Đán là Trần Nguyên Hãn và nhiều nhân tài, hào kiệt các nơi tham gia.
Ngày 3/1/1428, nghĩa quân hoàn toàn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập
nên triều đại nhà Lê. Sử gọi là Hậu Lê để phân biệt với Tiền Lê 980-1009 do Lê
Hoàn sáng lập.
Lê sơ - Hậu Lê (1428-1527) 10 đời vua trong 100 năm, đổi tên nước là Đại
Việ,t kinh đô tại Đông Kinh (Hoàng Thành Thăng Long ngày nay)
Lê Thái Tổ - Lê Lợi (1428-1433)
Lê Thái Tông - Lê Nguyên Long (1433-1442)
Lê Nhân Tông - Lê Bang Cơ (1442-1459)
Lê Thánh Tông - Lê Tư Thành (1460-1497)
Lê Hiến Tông - Lê Sanh (1498-1504)
Lê Túc Tông - Lê Thuần (6/6/1504-7/12/1504)
Lê Uy Mục - Lê Tuấn (1505-1509)
Lê Tương Dực - Lê Oanh (1509-1516)
Lê Chiêu Tông - Lê Y (1516-1522)
Lê Cung Hoàng - Lê Xuân (1522-1527)
Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi - 1527, Mạc Đăng Dung đem quân từ Cổ Trai vào kinh
đô Thăng Long ép vua phải nhường ngôi, bắt Vua và Thái hậu tự tử. Như vậy Lê
Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.
Chiến tranh Lê - Mạc
Nhà Mạc (1527 - 1593)
Thời kỳ đầu kinh đô nhà Mạc tại Kinh Thành Thăng Long, sau đó chạy lên phía Bắc
đặt kinh đô tại Cao Bình - TP Cao
Bằng ngày
nay
Mạc Thái Tổ - 1527-1529
Mạc Mục Tông - 1562-1592
Mạc Cảnh Tông - 1592-1593
Mạc Đại Tông - 1593-1625
Mạc Minh Tông - 1638-1677
Mạc Đức Tông - 1681-1683 (cuối cùng) Tàn dư họ Mạc còn tồn tại đến năm 1593
Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn 150 năm
Trịnh – Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia lãnh thổ giữa chế độ "vua
Lê chúa Trịnh" ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở
miền Nam (Đàng Trong) và kết thúc khi nhà Tây Sơn lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn
chúa Trịnh.
Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phù Lê diệt
Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Sau khi nhà
Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề
tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là lãnh thổ của nhà Lê.
Nhưng trên thực tế thì cả hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ
cho riêng mình như 2 nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền
nên không ngăn chặn được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn
Nhà Nguyễn ở đang trong đã mở rộng bờ cõi bằng việc diệt Chiêm Thành, lấn sang
Chân Lạp để mở mang bờ cõi. Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi nên ổn định
được lãnh thổ suốt hơn 150 năm.
Lê Trung Hưng - Hậu Lê với 16 đời vua Lê nối tiếp nhau trong 256 năm kinh đô
tại Đông Kinh (Hoàng Thanh Thăng Long ngày nay)
Trang Tông 1533-1548
Trung Tông 1548-1556
Anh Tông 1556-1573
Thế Tông 1573-1599
Kính Tông 1600-1619
Thần Tông 1619-1643 và 1649-1662
Chân Tông 1643-1649
Huyền Tông 1663-1671
Gia Tông 1672-1675
Hy Tông 1676-1704
Dụ Tông 1705-1728
Hôn Đức Công 1729-1732
Thuần Tông 1733-1735
Ư Tông 1735-1740
Hiển Tông 1740-1786. Sinh ra công chúa Lê Ngọc Hân sau này là vợ của Nguyên Huệ
Chiêu Thống 1787-1789
Trịnh Bồng tự lập làm nguyên soái Yến Đô vương và lấn át nhà vua khiến cho triều
chính rối ren, chém giết lẫn nhau. Nguyễn Huệ khi đó là Bắc Bình Vương kéo quân
ra Bắc dẹp loạn rồi lại rút quân về Phú Xuân.
Để khôi phục lại triều Lê, tháng 7/1788 Hoàng thái hậu
nhà Lê sang cầu viện nhà Mãn Thanh. Dựa vào thế quân Mãn Thanh, Lê Chiêu Thống
trở lại kinh đô Thăng Long đã trả thù tàn bạo những người theo Tây Sơn.
Mồng 5 tết năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do
hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm
lược Mãn Thanh ở gò Đống Đa giành độc lập cho tổ quốc ta. Lê Chiêu Thống, vua
bán nước, đã chạy theo tàn quân nhà Thanh sang Trung Quốc.
Triều đại Tây Sơn (1789 - 1802) - Nguyễn
Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ kinh đô tại Qui Nhơn và Phú Xuân (Huế)
Khi vua Quang Trung đang định chuẩn bị đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột
ngột qua đời (1792). Con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi không
có người lãnh đạo đủ năng lực, nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ xảy ra
tranh chấp. Giữa năm 1802 Nguyễn Ánh (Tàn dư của đàng trong) tiến ra chiếm được
Thăng Long. Nguyễn Ánh đã trả thù những người theo Tây Sơn vô cùng tàn bạo: Mộ
của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã thành bột nhồi
vào thuốc súng và bắn đi. Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, Trần
Quang Diệu bị chém đầu.
Triều Nguyễn (1802-1945) đổi tên nước là Việt Nam kinh đô tại Huế
Nguyễn Ánh lên ngôi nãm 1802 và lập ra triều Nguyễn với 13 đời Vua trong 143
năm
1. Nguyễn Phúc Ánh (1802-1820) Sáng lập nhà Nguyễn
2. Nguyễn Phúc Đảm - Minh Mạng (1820 - 1841) quốc hiệu được đổi thành Đại
Nam
3. Nguyễn Phúc Miên Tông - Thiệu Trị (1841 - 1847)
4. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm - Tự Đức (1847-1883)
5. Nguyễn Phúc Ưng Chân - Dục Đức (1883)
6. Nguyễn Phúc Hồng Dật - Hiệp Hòa (1883)
7. Nguyễn Phúc Ưng Đăng - Kiến Phúc (1883-1884)
8. Nguyễn Phúc Ưng Lịch - Hàm Nghi (1884-1885)
9. Nguyễn Phúc Ưng Kỷ - Đồng Khánh (1885-1889)
10. Nguyễn Phúc Bửu Lân - Thành Thái (1889-1907)
11. Nguyễn Phúc Vĩnh San - Duy Tân (1907 - 1916)
12. Nguyễn Phúc Bửu Đảo - Khải Định (1916 - 1925)
13. Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy - Bảo Đại (1925 - 1945)

Nhận xét
Đăng nhận xét