TỪ CẤU TRÚC đến CẤU TRÚC LUẬN và GIẢI CẤU TRÚC LUẬN/ TRỊNH NGỌC LINH

  


TỪ CẤU TRÚC ĐẾN CẤU TRÚC LUẬN

 TRỊNH NGỌC LINH

(Mọi trích dẫn, tham khảo học thuật cần tôn trọng tác giả và quyền tác giả)

1.     Mở đầu

Trong khuôn khổ tìm hiểu văn hóa Việt Nam từ góc nhìn xuyên văn hóa, chúng tôi có cơ hội một lần nữa nhận thức về lịch sử nhận thức của con người nói chung và khoa học nói riêng thông qua đề tài thu hoạch về cấu trúc và cấu trúc luận.

Lịch sử về quá trình hình thành và phát triển của loài người kể từ khi là một Homo habillis cách đây khoảng từ 2 triệu năm cho đến khi con người có những nhận thức đầu tiên về bản thân họ là một quá trình được đánh đổi không chỉ là thời gian mà còn là máu, là hành trình, đôi khi đơn độc hướng về ly rượu độc hay giàn hỏa thêu. Là bầu trời với sức nóng không tưởng chỉ chực chờ thêu rụi những đôi cánh Icarus non dại … Tất cả những rủi ro trên con đường độc đạo tìm về tri thức không bao giờ ngưng hết những hấp dẫn. Nó cứ tiếp tục sứ mệnh lôi cuống những bộ óc thiên tài. Khiến thứ chân lí của khoa học trở nên vừa quyến rũ lại vừa đáng sợ. Chúng tôi không cố văn hoa cho chủ đề mà mình sẽ bàn tới; chúng tôi chỉ cố gắng chỉ ra thực tiễn về nhu cầu chinh phục tri thức, về nhu cầu lí luận hóa những vấn đề thực tiễn. Mà thực chất ra công tác ấy đã có từ hàng nghìn năm về trước. Nhu cầu và khát vọng lí giải thực tiễn đã được phản ánh trong hành nghìn câu chuyện thần thoại trong hầu hết tất cả các nền văn hóa; Các vị thần trên đỉnh Olempus, thần lửa A Nhi của Ấn Độ, Nữ Oa vá trời của Trung Hoa, Thần Trụ trời của Việt Nam…

2.     CẤU TRÚC VÀ CẤU TRÚC LUẬN

Không có gì để bàn cãi rằng khoảng cách giữa thực tiễn rồi đến nhu cầu nhận thức thực tiễn và thành tựu lí luận cho công tác nhận thức thực tiễn đó là vô cùng tận; không thể nào ước lượng được. Thử hình dung rằng bất kì sự vật hiện tượng (SVHT) nào cũng mang trong nó một hệ thống các yếu tố bên trong và hiển nhiên kèm theo đó là một sự sắp xếp để chắc rằng SVHT đó có thể vận hành một cách hoàn hảo. Bất kì SVHT nào ở bất kì cấp độ nào cũng có cấu trúc của riêng nó; Từ cấu trúc của một dãy DNA cho đến cấu trúc của dãy ngân hà; từ cấu trúc của một protein tới cấu trúc của công trình kiến trúc theo trường phái Gothic… Đó là một sự thật khách quan. Sự tồn tại của một cấu trúc nào đó trong môt SVHT nào đó là bản chất khách quan; là cái được biểu đạt thông qua cái biểu đạt là “structure” trong tiếng Anh, là “구조” trong tiếng Hàn; hay như 構造” (Gòuzào) trong tiếng Trung. Như đã nói lúc nãy về khoảng cách giữa thực tiễn khách quan và thực tiễn của nhận thức; như vậy, câu chuyện về cấu trúc và nhận thức cấu trúc cũng cùng chung hành trình như thế. Mãi đến đầu XX, lịch sử loài người mới có những nhận thức mang tính chất lí luận và hệ thống về cấu trúc.

Thực chất mà nói; cách tiếp cận học thuật thiếu hình ảnh và sinh động ở nhà trường đã vô tình làm cho chủ nghĩa cấu trúc trở nên vô cùng xa lạ; thậm chí tưởng chừng như “structuralism” ỏ một tầng mây nào khác. Trong khi đó, chủ nghĩa cấu trúc lại tồn tại một cách vô cùng gần gũi trong cuộc sống và trong văn hóa của chúng ta. 

Chúng ta có thể bắt mạch Structuralism theo vài hướng như: -Historical notions it overturned; Early Influencers, What exactly it entails; Implications and Impact.

Như vậy Structuralism tồn tại như là một “bản chất vĩnh viễn”-“eternal essence”của bản thể luận -Ontology. Mặc khác nó cũng là câu chuyện của nhận thức luận – Epistemology:

Để có thể hiểu một cách sâu sắc nhất về structuralism, cách tốt nhất là ta thử tìm về cội nguồn sâu xa của philosophy theo nghĩa của một ngành khoa học đầu tiên và tiên tiến nhất. Hãy bắt đầu từ Platon để có thể nhìn thấy sự khác biệt to lớn đến độ là một cuộc cách mạng mà các nhà Cấu trúc luận mang lại.

Để có thể hiểu về Platon cùng quan niệm của ông ta có thể súc tích, mạnh dạn tìm hiểu về 3 khái niệm idea, form, illusion[1].





(Nguồn Ảnh 1: https://educationbiz.xyz/order?rid=0cda00814f11853c)

Plato tin vào các hình thức (form) và rằng ý tưởng tối thượng (ultimate idea) (bản chất của mọi thứ -essence of everything) tồn tại trên thiên đường. Ông tin rằng ý tưởng (idea) là những thứ có thật, chúng có những bản chất thực sự, chúng không phải là nhân tạo bóng bẩy hay viển vông –Đó là những sự thật có thật. Những hình thức đó là khởi nguồn của mọi thứ trong thế giới của chúng ta –Those form are the origins of everything in our world).

Theo Plato, những vật thể mà chúng ta nhìn thấy xung quanh mình - ghế và bàn, cây và núi, kiến ​​và hành tinh - rốt cuộc không phải là thực. Chúng chỉ là bóng hoặc phản chiếu của các vật thể thực - các dạng. Lấy sách làm ví dụ, theo Plato, mỗi cuốn sách cụ thể là sự phản ánh thoáng qua của một dạng: dạng “cuốn sách”. Ngoài ra còn có dạng bàn, dạng ghế, v.v. Những hình thức này khác với những bàn ghế cụ thể mà chúng ta quan sát xung quanh mình ở một số điểm quan trọng: Các hình thức thực tế hơn là các chi tiết “dự phần” (partaken) của chúng. Thật vậy, những cuốn sách cụ thể bắt nguồn từ sự tồn tại của chúng từ hình thức của cuốn sách. Nếu không có hình thức của cuốn sách, không thể có cuốn sách cụ thể.

Các hình thức là vĩnh cửu và bất biến. Cái cụ thể đến và đi. Một cái cây cụ thể nào đó lớn lên, chết, rồi thối rữa và biến mất. Trái lại, hình thức của cây là vĩnh cửu. Nó không tồn tại cũng không ngừng tồn tại. Các hình thức cũng không thay đổi. Ý tưởng của chúng ta thay đổi, (điều đó là tất nhiên).

(Nguyên văn: According to Plato, those objects that we seem to see around us - chairs and tables, trees and mountains, ants and planets - are not what is ultimately real. They are mere shadows or reflections of the truly real objects - the forms.

Take books, for example. According to Plato, each particular book is a fleeting reflection of a form: the form of “book”. There is also a form of the table, a form of the chair, and so on. These forms differ from the particular tables and chairs we observe around us in a number of important ways: The forms are more real than are the particulars that 'partake' of them. Indeed, particular books derive what existence they have from the form of the book. If there was no form of the book, there could be no particular book. The forms are eternal and unchanging. Particulars come and go. A particular tree grows, then dies, then rots and is gone. The form of the tree, by contrast, is eternal. It neither comes into being nor ceases to be. Nor do the forms change. Our ideas change, of course.[2])




(Nguồn Ảnh 2: http://www.scandalon.co.uk/philosophy/plato_good.htm)

Hiểu một cách đơn giản rằng Platon nhấn mạnh đến sự giống nhau của các vật thể cùng họ, được thể hiện qua tên gọi. Ví dụ ngựa gỗ, ngựa giấy, ngựa Mông Cổ, ngựa bạch, ngựa ô… đều có tên gọi chung là ngựa, ta vẽ vô số bức tranh chân dung với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tất cả cũng chỉ là một dạng thức hội họa, mang tính chất bắt chước.[3]

Cũng theo Plato, tất cả những gì chúng ta nhìn thấy, cảm nhận được, mắt thấy tai nghe đều là ảo ảnh– là cái bóng của các object; Plato gọi là các illusion (ảo ảnh)[4]

Trong khi đó, các nhà cấu trúc luận của chúng ta lại phủ nhận hoàn toàn về việc nhìn nhận về “the world of the senses” như là các illusion; tồn tại của những “spiritual essence”, tính chất siêu hình - metaphysical của thế giới. Các nhà cấu trúc luận của chúng ta luôn nhìn thấy những hệ thống vật chất như là căn cơ cho mọi vật. Các nhà cấu trúc luận đã thực hiện một cuộc nhào lộn và chỉ ra đâu là

Karl Marx (1818 -1883) được xem như là một trong những nhà Proto –Structruralist. Nếu như Plato chỉ ra rằng, nghệ thuật hay tôn giáo là những higher truths thì Marx nói rằng đó chỉ là những sản phẩm của các cơ cấu kinh tế bên dưới. Hệ thống của Plato đi từ trên xuống dưới; từ thế giới của ý niệm tuyệt đối đến các ảo ảnh, thì thế giới của Karl Marx được bắt đầu từ các nguồn lực kinh tế xã hội – socioeconomic forces. Với Marx, tôn giáo, hay tất cả những thứ khác là sản phẩm của những nguồn lực kinh tế xã hội. Như vậy, đây cũng chính là cái cách mà Marx –một nhà tiền chủ nghĩa cấu trúc nhìn nhận về bản thể luận –Ontology –cái mà đối với Plato nó chỉ là “study of being eternal essence” –nghiên cứu về bản chất vĩnh cữu.

Nhân tiện khi chúng ta bàn về Ontology, hãy nhìn thử một chút về Epistemology –nhận thức luận. Descartes nói rằng: “Tôi tư duy, do đó tôi tồn tại” (I think, therefore I am). Sigund Freud (1856 - 1939):  Một nhà Proto – Structuralist, thậm chí đã hoàn toàn lật ngược lại điều này bằng những thực nghiệm y học đã chứng minh rằng không phải nhận thức, mà chính những vô thức, những cấu trúc uẩn ức ẩn sâu bên trong chúng ta mới quyết định chúng ta  là ai. Và hơn hết rằng nhận thức (conscious) là một sản phẩm của vô thức (unconscious).

Tóm lại, đối với chủ nghĩa cấu trúc, họ tin rằng nguồn cơn thật sự cho tất cả những ý nghĩa và tồn tại phải nằm sâu trong tầng cấu trúc bên dưới và hiển nhiên chắc chắn rằng nó không nằm trên thiên đường. Họ đề xuất cụm: “self -contained system” – hệ thống khép kín. Các yếu tố độc lập, đơn lẻ của một cấu trúc không hề mang ý nghĩa cho đến khi bạn sắp xếp chúng trong một hệ thống; và đến đêy bắt buộc chúng ta phải bàn đến chính là ngài Ferdinand de Saussure[5]-một nhà ngôn ngữ học và cũng chính là nhân vật chủ chốt của của chủ nghĩa cấu trúc. Việc phát hiện ra bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự quy định lẫn nhau trong một hệ thống chính là một bước ngoặc lớn không chỉ đối với lĩnh vực ngôn ngữ học mà còn mở ra một hướng tiếp cận mới cho các ngành khoa học khác.



(Nguồn ảnh: https://www.simandan.com/ferdinand-de-saussure/)

Trước hết hãy thử nhìn về khái niệm căn bản nhất của F.De. Saussure với tư cách là một nhà khoa học về ngôn ngữ.




(http://nhunghuyenthoai.com/ky-hieu-hoc-cua-ferdinand-de-saussure/)

 

Lí thuyết về Kí hiệu học –Seminology; những quan điểm của F. De Saussure không chỉ thành trở khởi nguồn của lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại mà còn là trở thành khởi nguồn của tư duy cấu trúc. Mà trong đó, hướng tiếp cận cấu trúc là chủ chốt của hệ hình tư duy kiểu này.

Để làm được điều đó thì F. De.Saussure đã đề xuất các cặp lưỡng phân để làm ranh giới phân định việc nghiên cứu ngôn ngữ. Trong đó có các cặp như ngôn ngữ và lời nói, nội tại và ngoại vi…

Saussure had a major impact on the development of linguistic theory in the first half of the 20th century with his notions becoming incorporated in the central tenets of structural linguistics. His main contribution to structuralism was his theory of a two-tiered reality about language. The first is the langue, the abstract and invisible layer, while the second, the parole, refers to the actual speech that we hear in real life. This framework was later adopted by Claude Levi-Strauss, who used the two-tiered model to determine the reality of myths. His idea was that all myths have an underlying pattern, which form the structure that makes them myths. These established the structuralist framework to literary criticism. (https://en.wikipedia.org/wiki/Ferdinand_de_Saussure). (Tạm dịch: Saussure đã có tác động lớn đến sự phát triển của lý thuyết ngôn ngữ học trong nửa đầu thế kỷ 20 khi các khái niệm của ông trở thành nguyên lý trung tâm của ngôn ngữ học cấu trúc. Đóng góp chính của ông cho chủ nghĩa cấu trúc là lý thuyết của ông về một thực tại hai tầng về ngôn ngữ. Đầu tiên là ngôn ngữ, lớp trừu tượng và vô hình, trong khi lớp thứ hai, tạm dịch, đề cập đến lời nói thực tế mà chúng ta nghe thấy trong cuộc sống thực. Khung này sau đó đã được Claude Levi-Strauss, người đã sử dụng mô hình hai tầng để xác định tính thực tế của thần thoại áp dụng. Ý tưởng của ông là tất cả các thần thoại đều có một khuôn mẫu cơ bản, tạo nên cấu trúc khiến chúng trở thành thần thoại. Những điều này đã thiết lập khuôn khổ chủ nghĩa cấu trúc cho phê bình văn học.)

Các trí thức Pháp như Roland Barthes, Jacques Lacan, và Claude Lévi-Strauss đã có sự điều chỉnh những quan điểm của Saussure trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ đó, thì sức ảnh hưởng từ những ý tưởng của Saussure trong các lĩnh vực nghiên cứu như nghiên cứu văn học / triết học, phân tâm học, nhân học càng trở nên mạnh mẽ hơn.

 Thực chất mà nói, kể cả khi giáo trình của ông (được biên tập lại nhờ hai vị trong trò của ông là Charles Belly và Albert Sechehaye) thì những ghi nhận của Saussure vẫn dừng lại là những “nhận thức khoa học” mang tính chất nền móng cho những phát triển vượt bậc của nhận thức về cấu trúc và nâng nó lên thành cấu trúc luận (structurism) sau này –mà công lao đó gắn liền với tên tuổi của Levi Strauss, mà chúng ta sẽ có rất nhiều dung lượng trong bài viết này để có thể tìm hiểu về ngài ấy.

Trở lại với những khám phá của Fardinand De Saussure trong việc phát hiện ra bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự quy định lẫn nhau trong một hệ thống –như đã nói chính là một bước ngoặc lớn không chỉ đối với lĩnh vực ngôn ngữ học mà còn mở ra một hướng tiếp cận mới cho các ngành khoa học khác. Đó là hướng tiếp cận cấu trúc, ví dụ như phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ học và trong nhân loại học, xã hội học cấu trúc… Phân tích cấu trúc của các ngành khoa học xã hội chính là công tác nhìn thấy được đâu là hệ thống cốt lõi và mối quan hệ, liên hệ tất yếu giữa các thành tố trong hệ thống đó:

“Có lẽ cách đơn giản nhất để cơ sở lí luận của thuyết cấu trúc là so sánh nó với ngôn ngữ học. Mọi ngôn ngữ đều được kết hợp từ các nhóm âm tùy hứng được gọi là âm vị. Bản thân các âm vị không có nghĩa. Nó chỉ có nghĩa khi kết hợp  thành các đơn vị lớn hơn (hình vị, từ, ngữ… ) theo các mô hình nhất định (các quy tắc cú pháp hay ngữ pháp) mà các âm vị tạo thành những đơn vị có nghĩa (lời nói). Hầu hết những người sử dụng ngôn ngữ tuy không thể tiết hợp các quy tắc nền tảng do cách sử dụng ngôn ngữ của họ cấu thành, làm cho sự giao tiếp trở nên có ý nghĩa nhưng lại có thể sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp một cách có hiệu quả. Do đó ở cấp độ tiềm thức, chúng ta phải “biết” tất cả các quy tắc mà cách sử dụng ngôn ngữ của chúng ta cấu tạo nên”[6]

Trong bối cảnh mà cả thới đại học thuật trước Saussure chỉ tập trung vào tính lịch sử của ngôn ngữ thì Fardinand De Saussure cùng với những luận điểm nghiên cứu ngôn ngữ như là một hệ thống độc lập đang tồn tại tại một thời điểm nhất định đã làm thay đổi cả một hệ hình tư duy trước đó –như cách nói  Thomas Kuhm.

Theo sau Saussure là trường phái Praha với các học giả tiêu biểu Nikolai Troubetzkoy (1890 -1938) và Roman Jakobson (1896 -1982). Các nhà nghiên cứu theo trường phái Praha tập trung vào vấn đề mỗi một ngôn ngữ xây dựng hệ thống âm vị của nó như thế nào. “Họ phát hiện các hệ thống như thế được xây dựng dựa trên các mặt tương phản, đối lập hơn là các bảng mục âm thanh đang tồn tại một cách đơn giản”. Và chính trường phái Praha và những gì mà trường phái này tiếp thu được từ Saussure đã được Levi Strauss tiếp thu một cách triệt để và tái khẳng định nó nhiều lần trong các công trình nghiên cứu của mình.

Trong bài nghiên cứu “Phân tích cấu trúc trong ngôn ngữ học và trong nhân loại học”, Strauss đã ví vai trò của ngôn ngữ học cấu trúc đối với khoa học như thể “vật lí hạt nhân” từng thủ vai chính trong hệ thống các ngành khoa học chính xác:

“Sự xuất hiện của Ngôn ngữ học cấu trúc làm đảo lộn tình hình này. Nó không chỉ đổi mới các quan niệm ngôn ngữ học: sự biến đổi của tính trọng đại này không bị chế định ở một khuôn khổ cụ thể. Ngôn ngữ học cấu trúc chắc chắn sẽ đóng vai trò đổi mới đối với các khoa học xã hội giống như vật lí hạt nhân từng thủ vai ấy đối với hệ thống các ngành khoa học chính xác… Vì vậy trước hết, khoa học xã hội cần xác lập các mối liên hệ tất yếu”[7]

Levi Strauss cũng vậy. Ông cố gắng thiết kế kĩ thuật cho việc nghiên cứu các nguyên tắc vô thức mà văn hóa nhân loại tạo ra… Đối với Levi Strauss thì: “về cơ bản văn hóa cũng như ngôn ngữ là sự tập hợp các biểu trưng. Ông ít quan tâm tới ý nghĩa đặc thù của các biểu trưng hơn bất kì một nhà ngôn ngữ học nào quan tâm tới các âm vị của một ngôn ngữ. Đúng hơn, ông chú ý tới mô hình các yếu tố, cách thức mà các yếu tố văn hóa liên hệ với nhau để tạo thành hệ thống tổng thể”[8]. Từ đó, những khái niệm về hệ thống hình thành.

 Strauss viết: “Trong công tác nghiên cứu vấn đề dòng họ (hiển nhiên cũng như là đối với các vấn đề khác), nhà nhân loại học thấy mình lâm vào tình trạng tương tự nhà ngôn ngữ học cấu trúc. Cũng như âm vị, các âm vị của hệ thống dòng họ là những yếu tố của nghĩa và chúng chỉ có được ý nghĩa khi chúng gia nhập vào hệ thống. Hệ thống dòng họ, cũng như hệ thống âm vị, được kiến tạo bởi tinh thần ở trình độ tư duy vô thức. Cuối cùng, sự tái lập các mô hình dòng họ, các quy chế hôn nhân, các thái độ giống nhau được ấn định của các quan hệ loại hình nào đó,… ở rải rác một vài nơi trên thế giới và trong những xã hội cơ bản khác nhau”

Nghiên cứu khoa học bao giờ cũng phải bắt đầu từ các đối tượng. Mà không có đối tượng nào lại nằm ngoài mối quan hệ xã hội. Vì vậy cho nên phải đặt đối tượng trong hệ thống của chính nó của nó. Đi tìm hiện tượng là đi tìm cái nghĩa của nó, vậy phải đặt nó trong mạng lưới các mối quan hệ mới nhìn ra được bản chất của nó.

Hệ thống trong nghiên cứu khoa học là một tập hợp các phần tử có mối quan hệ hữu cơ, tác động và chi phối lẫn nhau theo một quy luật nhất định. Theo đó thì mỗi phần tử sẽ mang một chức năng nhất định khác nhau đóng vai trò trong hệ thống đó. Tầm quan trọng của các thành tố được Levi Strauss phân tích trong The Elementary Structures of Kinship (1949) bằng phương pháp xây dựng sự tương phản –đối lập hai mặt trong mô hình căn bản của tư duy con người: Đêm –ngày; nóng –lạnh; đen –trắng.

“Trong tác phẩm bàn về thần thoại, truyện dân gian và tôn giáo của mình, Levi Strauss đã phát triển khái niệm mà nhận thức của con người được cấu trúc thành các đối lập lưỡng phân. Ông cho rằng đặc trưng cơ bản của tư duy con người là mong muốn tìm ra điểm chung giữa các đối lập lưỡng phân như thế. Theo ông các yếu tố của thần thoại, cũng giống như âm vị của ngôn ngữ, chỉ có nghĩa khi chúng được sắp đặt theo các quan hệ cấu trúc nhất định. Kết quả là, nhà theo thuyết cấu trúc vừa khảo sát các quy tắc quy định mối quan hệ giữa các yếu tố của thần thoại đồng thời lại phân giải thần thoại thành các yếu tố cấu thành của nó và vạch ra ý nghĩa vô thức được tìm thấy trong mối quan hệ hai mặt của chúng. Mã cấu trúc bị che giấu này sẽ hiển lộ các cấu trúc cơ bản của tư duy con người”[9]

Tóm lại từ những nhận thức về cấu trúc,  Levi đẩy lí luận này lên đỉnh cao và đưa tới hình thái cao nhất cho hoạt động nhận thức chính là sự ra đời của Cấu trúc luận –Struturalism mà ông chính là đại diện tiêu biểu và hầu như là duy nhất cho trường phái này. Từ Saussure hệ thống đã mang nghĩa là đơn nhất. Đối với Levi Strauss điều đó lại càng được đẩy tới cực đoan khi ông khép kín, phủ nhận những điều kiện bên ngoài. Ông tuyệt đối hóa và đồng đại đối tượng nghiên cứu.  Mọi tồn tại trong hệ thống đối với ông đều nhờ vào quan hệ đối lập trong hệ thống. Ông ấy lặn sâu vào trong tìm kiếm các mặt đối lập và đưa ra các phạm trù mang tính chất nhị nguyên, vì thế cho nên Levi Strauss còn được gọi là nhà duy lí chủ nghĩa.

Bên cạnh Levi Strauss một nhà nghiên cứu mà chúng tôi cũng muốn bàn đến khi nhắc về chủ nghĩa cấu trúc chính là Marcel Mauss –một vị tiền bối của Levi Strauss; sự phân tích cấu trúc của vô thức tập thể của Marcel Mauss trong khảo luận về quà tặng cũng là ví dụ tiêu biểu cho cấu trúc đối lập nhị phân của phương pháp cấu trúc.

Marcel Mauss[10], năm 1925 trong Khảo luận về quà tặng, một hình thức trao đổi cổ sơ (The Gift)[11]; tác giả đã nhận diện và phân tích “vô thức tập thể” làm nền tảng cho văn hóa quà tặng và tặng quà. “Những cặp đối lập nào tạo nên cấu trúc của “vô thức tập thể” đó?” là câu hỏi và cũng là hướng trả lời cho việc tìm hiểu mô hình cấu trúc của Mauss trong bài khảo luận của mình; (thông qua việc nghiên cứu lễ hội Potlatch).

“Bổn phận hoàn trả xứng đáng có tính mệnh lệnh. Người ta sẽ mất sĩ diện vĩnh viễn nếu không hoàn trả hoặc các giá trị tương đương không bị hủy hoại. Sự thừa nhận bổn phận hoàn trả là sự nô dịch hóa đối với người  nợ. Ai không trả được một món nợ hay một lễ hội Potlatch thì sẽ bị mất địa vị thậm chí sẽ bị mất đi cái địa vị của một người tự do...

 Ở góc độ khác chúng ta thấy có sự chuyển giao của cải và cơ hội tốt, thần linh và các thần phù trợ của người mới được kết nạp cho phép anh tài sở hữu các đồ đồng và các bùa chú là những phương tiện giúp anh ta tậu được các đồ đồng khác... Thông qua chúng mà địa vị xã hội được định đoạt, bởi lẽ khi một người nắm lấy được của cải thì anh ta cũng nằm được linh hồn và đến lượt nó linh hồn này chiếm hữu lấy anh ta giúp anh tàu vượt qua những trở ngại một cái anh hùng sau đó người anh hùng…”[12]

Động cơ của việc trao đổi quà tặng là những kỳ vọng chuẩn mực mà các bên tham gia mặc nhiên công nhận. Mỗi món quà đều mang trong mình một động lực kỳ diệu và một cảm giác nghĩa vụ mạnh mẽ (khác hàng hóa đơn thuần). Trên cơ sở đó thì các cấu trúc Tặng quà/ Mua bán – Tự nguyện, bắt buộc– Vật chất thực dụng/Tinh thần là cơ sở để xác định sự tồn tại của hành vi trao đổi quà tặng vô thức.


TỪ CẤU TRÚC LUẬN ĐẾN GIẢI CẤU TRÚC LUẬN

Hegen đã nhận định: Đối tượng quy định phương pháp, phương pháp làm ra đối tượng; vì vậy cho nên tiếp cận hệ thống là bắt buộc trong nghiên cứu khoa học. Bởi lẽ bản chất của SVHT là hữu cơ. Không có một đối tượng nào lại không nằm trong một hệ thống nhất định. Và có lẽ rằng như một quy luật tất yếu của sự phát triển. Các hệ hình cũ sẽ luôn mang trong mình những điều không ổn thỏa và nhiệm vụ của các thế hệ tiếp theo sau là phải chỉ ra được những điều chưa ổn thỏa và vạch ra hướng đi mới với tư cách là những con người thức thời nhất.

 Even Zohar[13] –đến lượt mình phê phán cách tiếp cận cấu trúc khi chỉ ra những thiếu sót khi gạt ngang và lờ đi tính lịch đại của SVHT. Bất kì đối tượng nào phải nghiên cứu trong hệ thống đồng đại ( và lịch đại. Trong từng một bộ khung mà SVHT xuất hiện đều mang trong mình những chức năng. Từ những nghiên cứu về các quan hệ tạo nên cấu trúc, tạo nên chức năng thì Even Zohar nổi lên như một cái tên cho người tiên phong trong lí thuyết đa hệ thống.

“Since the early 1970s Even-Zohar has been working on developing theoretical tools and research methodology for dealing with the complexity and interdependency of socio-cultural ‘systems,’ which he views as heterogeneous, versatile and dynamic networks. In 1972, he proposed a multi-layered structural theory of text (Even-Zohar 1972), but soon became one of the first critics of “Static Structuralism” (Even-Zohar 1978) and what he saw as a reification flaw imposed on the Structuralist agenda by a rigid and ‘sterile’ interpretation of Saussure’s notions of structure and ‘linguistic system’. In order for these notions to be widely and fruitfully applicable to all living, complex cultural activities, he believes one must take into account the interplay of the diachronic (historical) and synchronic (contemporary) dimensions of a socio-cultural system”. He therefore introduced the idea of “dynamic Structuralism,” with the concept of an “open system of systems,” to capture the aspects of variability and heterogeneity in time and place (Even-Zohar 1979)[14].” (Tạm dịch: Kể từ đầu những năm 1970, Even-Zohar đã nghiên cứu phát triển các công cụ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu để đối phó với sự phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau của các hệ thống văn hóa xã hội, mà ông coi là các mạng lưới không đồng nhất, linh hoạt và năng động. Năm 1972, ông đề xuất một lý thuyết cấu trúc nhiều lớp của văn bản (Even-Zohar 1972), nhưng nhanh chóng trở thành một trong những nhà phê bình đầu tiên của “Chủ nghĩa cấu trúc tĩnh” (Even-Zohar 1978) và những gì ông coi là một khiếm khuyết trong việc cải tạo những vấn đề của những nhà chủ nghĩa cấu trúc bởi sự thể hiện, giải thích cứng nhắc và “khô cằn” về các quan niệm của Saussure về cấu trúc và “hệ thống ngôn ngữ”. Để những quan niệm này có thể áp dụng rộng rãi và hiệu quả cho mọi hoạt động văn hóa phức tạp, sống động, ông tin rằng người ta phải tính đến sự tác động lẫn nhau của các chiều kích lịch đại (lịch sử) và đồng đại (thời gian hoặc thời được bàn tới) của một hệ thống văn hóa xã hội”. Do đó, ngài ấy đưa ra ý tưởng về “Chủ nghĩa cấu trúc động”, với khái niệm về “những hệ thống của các hệ thống mở”, để nắm bắt các khía cạnh của sự biến đổi và không đồng nhất theo thời gian và không gian (Even-Zohar 1979).

Một khía cạnh khác khi nhắc về những đóng góp của Even Zohar chính là trong công tác dịch thuật –một công việc được ông xem như là một hình thức hoạt động phức tạp và năng động được điều chỉnh bởi các quan hệ hệ thống. Trong những bài viết ghi nhận về Zohar, những đóng góp trên luôn được nhìn nhận như là những mảng chính trong sự nghiệp của ông:

 “His main work has been developing polysystem theory, designed to deal with dynamics and heterogeneity in culture. His field work has concentrated on interactions between various cultures, and viewed from the perspective of the making of cultures, especially of large entities (such as “nations”). He has been engaged in recent years in working on the planning of culture and its relation to the making of such large entities. In earlier stages of his work he contributed to developing a polysystemic theory of translation, i.e., designed to account for translation as a complex and dynamic activity governed by system relations rather than by a-priori fixed parameters of comparative language capabilities. This has subsequently led to studies on literary interference, eventually analyzed in terms of intercultural relations”. (Tạm dịch: Công việc chính của ông là phát triển lý thuyết đa hệ, được thiết kế để giải quyết với tính chất năng động và không đồng nhất trong văn hóa. Các khía cạnh nghiên cứu của ông tập trung vào sự tương tác giữa các nền văn hóa khác nhau và nhìn từ góc độ hình thành các nền văn hóa, đặc biệt là các cấp độ thực thể rộng lớn (chẳng hạn như “các quốc gia”). Trong những năm gần đây, ông đã tham gia vào việc lập kế hoạch văn hóa và mối quan hệ của nó với việc hình thành các cấp độ thực thể lớn. Trong những giai đoạn đầu của công việc của mình, ông đã đóng góp vào việc phát triển một lý thuyết đa hệ thống về dịch thuật, tức là, được thiết kế để coi dịch thuật như một hoạt động phức tạp và năng động được điều chỉnh bởi các quan hệ hệ thống chứ không phải bởi các tham số cố định tiên nghiệm của năng lực ngôn ngữ học so sánh. Điều này sau đó đã dẫn đến các nghiên cứu về sự giao thoa văn học, cuối cùng được phân tích về mối quan hệ giữa các nền văn hóa.”

Trong khuôn khổ bàn về cấu trúc như một sự thực khách quan tồn tại và con đường để nó nâng cấp trở thành một trường phái nghiên cứu cấu trúc, với đặc trưng nổi bật là tính đồng đại thì Even Zohar như là mảnh ghép hoàn hảo với khái niệm về hệ thống và đa hệ thống –Mà hiển nhiên rằng chúng ta cần hiểu nó như là những quan điểm trái ngược với tiếp cận đồng đại. Trong những ghi nhận của mình về “đa hệ thống”, ông chỉ ra rất rõ vai trò của thuyết đồng đại cấu trúc và những hạn chế của nó: “Phải thừa nhận, vì vận hành một hệ thống mở khó hơn nhiều một hệ thống khép kín, nên mức độ phân tích thấu đáo có thể bị hạn chế hơn. Sẽ có nhiều không gian hơn cho “những hỗn loạn” và ý niệm về tổng thể (systemic) sẽ có thể không bị nhầm lẫn đánh đồng với ý niệm về [tuần tự theo] hệ thống (systematic) nữa. Chắc chắn đây là những bất lợi, theo quan điểm lí thuyết hệ thống tĩnh. Song từ quan điểm lí thuyết hệ thống động thì không như vậy. Thực sự thuyết đồng đại có thể giải quyết ý niệm chung về chức năng và việc thực hiện chức năng, song không thể miêu tả việc thực hiện chức năng của bất kì một hệ thống kí hiệu học –xã hội học nào trong một địa hạt riêng và đúng lúc.”[15]

Nền Văn hóa Đông Sơn là một cấu trúc… sau nghìn năm bị phá vỡ cấu trúc, giải cấu trúc đi; đây là quy luật của thực tại và cũng là quy luật của nhận thức.




(Ảnh: http://documents.raymondvandewiel.org/presentation(post)structuralism.html)

([16])

Đến đây, thì hai đại diện tiên biểu là Dedirra và Faulcault cần phải được nhắc đến hơn bất kì nhà nghiên cứu nào cho vai trò như là những người tiên phong khám phá một con đường mới –Deconstruction –Giải cấu trúc.

“Giải cấu trúc là một cách tiếp cận để hiểu mối quan hệ giữa văn bản (text) và ý nghĩa (meaning). Nó được bắt nguồn bởi triết gia Jacques Derrida (1930–2004), người đã định nghĩa thuật ngữ này rất đa dạng trong suốt sự nghiệp của mình. Ở dạng đơn giản nhất, giải cấu trúc có thể được coi là một sự chỉ trích đối với chủ nghĩa Platon (Platonism) cùng ý tưởng của Plato về cái gọi là hình thức thực sự (true form), hay những bản chất (essence), được ưu tiên hơn những vẻ bề ngoài. [1] Thay vào đó, giải cấu trúc đặt trọng tâm vào ngoại hình, hoặc ít nhất gợi ý rằng bản chất phải được tìm thấy ở vẻ ngoài. Derrida có thể nói rằng sự khác biệt là “không thể quyết định”, ở chỗ nó không thể nhận ra trong những trải nghiệm hàng ngày.

Giải cấu trúc nhận thức rằng ngôn ngữ, đặc biệt là các khái niệm trừu tượng như chân lý và công lý, là phức tạp, không ổn định hoặc không thể xác định được. Nhiều cuộc tranh luận trong triết học lục địa[17] xoay quanh bản thể luận (Ontology), nhận thức luận (Epistemology), đạo đức học (Ethic), mỹ học (Aesthetic), thông diễn học[18] (Hermeneutics) và triết học ngôn ngữ (Philosophy of language) đề cập đến các quan sát của Derrida. Kể từ những năm 1980, những quan sát này đã truyền cảm hứng cho hàng loạt các công trình lý thuyết trong khoa học nhân văn, bao gồm các ngành về luật (Discipline of law), nhân học (Anthropology), sử học (Historiography), ngôn ngữ học (Linguistic), xã hội học (Sociolinguistic), phân tâm học (Psychoanalysis), nghiên cứu LGBT (LGBT studies) và nữ quyền (Femalism). Giải cấu trúc cũng truyền cảm hứng cho chủ nghĩa giải cấu trúc trong kiến trúc và vẫn quan trọng trong nghệ thuật, âm nhạc, và phê bình văn học” (https://en.wikipedia.org/wiki/Deconstruction)

(Deconstruction is an approach to understanding the relationship between text and meaning. It was originated by the philosopher Jacques Derrida (1930–2004), who defined the term variously throughout his career. In its simplest form it can be regarded as a criticism of Platonism and the idea of true forms, or essences, which take precedence over appearances. Deconstruction instead places the emphasis on appearance, or suggests, at least, that essence is to be found in appearance. Derrida would say that the difference is “undecidable”, in that it cannot be discerned in everyday experiences.

Deconstruction perceives that language, especially ideal concepts such as truth and justice, is irreducibly complex, unstable, or impossible to determine. Many debates in continental philosophy surrounding ontology, epistemology, ethics, aesthetics, hermeneutics, and philosophy of language refer to Derrida's observations. Since the 1980s, these observations have inspired a range of theoretical enterprises in the humanities, including the disciplines of law, anthropology, historiography, linguistics, sociolinguistics, psychoanalysis, LGBT studies, and feminism. Deconstruction also inspired deconstructivism in architecture and remains important within art, music, and literary criticism.)

Bàn một chút về thân thế, sự nghiệp của Jacques Derrida (1930 - 2004); để có thể hiểu thêm về người được xem là thủ lĩnh của giải cấu trúc. Ông là triết gia có gốc gác Do Thái. Vào những thập kỉ cuối thế kỉ 20, Ảnh hưởng của Derrida đến đời sống tinh thần nhân loại là vô cùng rộng khắp.

Thử bàn về Derrida cùng giải cấu trúc –Deconstruction một cách nghiệp dư nhất để có thể tìm ra cái căn bản mà Derrida muốn “giải”. Hai nhân vật mà Derrida trong lần lượt hai tác phẩm của mình: “Ngôn ngữ học và Kí tự luận” (Linguistic and Grammatology) năm 1977 và “Bối cảnh sự kiện chữ kí” (Signature event context) năm 1982, đã giải cấu trúc chính là hai nhân vật gạo cội (mà một trong hai người đã được nhắc ở phần trên trong tiểu luận) là Ferdinand De Saussure và J.L. Austin (1911 -1960)[19]

“Trong bài viết Bối cảnh sự kiện chữ kí (Signature event context, 1982) Derrida đã giải cấu trúc sự đối lập của Austin giữa hành vi lời nghiêm túc và không nghiêm túc. Việc giải cấu trúc Austin còn liên quan đến tuyên bố của nhà triết học rằng lời nói ra (performative utterance) chỉ có thể là thích hợp nếu người nói dự định nói ra nó. Derrida phản bác lại bằng cách cho rằng tất cả mọi lời nói ra đều ở trạng thái “trích dẫn” (quotation), sẽ chẳng có lời nào là thuần tuý của một chủ thể phát ngôn nào đó, bởi người nói chẳng thể nào “đẻ” ra chữ mà phải luôn vay mượn từ truyền thống, vậy nên sẽ chẳng thể nào có được sự nghiêm túc trong thể hiện lời. Tư tưởng này về sau được Kristeva[20] lấy làm nền tảng cho khái niệm liên văn bản (intertextuality) của bà. [21]

 

Kết luận:

Để kết thúc bài viết về cấu trúc và hậu cấu trúc luận; người viết xin lấy một ví dụ của giáo sư John Lexnon từ đại học Oxford trong quyển: “Can science explain everything”: Để trả lời cho câu hỏi “Why is the water boiling –Tại sao nước lại sôi?” Các nhà khoa học sẽ trả lời rằng: Because heat is being conducted through the base of the kettle and agitating the molecules of water, and the water’s boiling – Bởi vì nhiệt được dẫn thông qua đáy của ấm đun nước và làm khuấy động các phân tử nước, nên dẫn đến nước sôi… Nhưng Lennox, ngài ấy nói rằng có một dạng giải thích khác: “Why is it boiling? – Because I would like a cup of tea”.



[1] Giữa hai khái niệm Idea và Form; cũng như bản thân nội hàm Form của Plato nhiều khía cạnh cần bàn đến; nhưng vì mục tiêu sử dụng cho bài viết không thực sự cần bàn đến; người viết chưa có cơ hội triển khai sâu thêm về vấn đề này.

[2] (https://pcritchley2.wixsite.com/beingandplace/single-post/2010/09/15/Platos-Theory-of-the-Forms)

[3] Thực chất mà nói; thông qua các lập luận của Plato, mà chúng ta bàn về, đặc biệt là thông qua ảnh 1 và 2. Nếu lờ đi tính chất duy tâm đầy ảo ảnh; chúng ta hoàn toàn có thể dễ dàng nhận ra việc tồn tại một sơ đồ đầy tính chất “hệ thống” của ông.

[4] Đây cũng chính là một trong những viện dẫn cốt yếu cho rằng ông là nhà triết học duy tâm).

[5] Ferdinand de Saussure (26 tháng 11 năm 1857 – 22 tháng 2 năm 1913) là một nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ sinh trưởng tại Genève

[6] R. Jon Mcgee –Richard L. Warms, Lí thuyết nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Thuyết cấu trúc, trang 455, Nxb Từ điển Bách Khoa 2010

[7] R. Jon Mcgee –Richard L. Warms, Lí thuyết nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Thuyết cấu trúc, trang 459, 460, Nxb Từ điển Bách Khoa 2010

[8] R. Jon Mcgee –Richard L. Warms, Lí thuyết nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Thuyết cấu trúc, trang 456, Nxb Từ điển Bách Khoa 2010

[9] R. Jon Mcgee –Richard L. Warms, Lí thuyết nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Thuyết cấu trúc, trang 456, Nxb Từ điển Bách Khoa 2010

[10] Marcel Mauss (1872-1950), người được coi là cha đẻ của ngành nhân học Pháp và một trong những nhà sáng lập của ngành nhân học, đã nghiên cứu về hiện tượng trao đổi (échange) trong các xã hội nguyên thủy và xã hội cổ sơ thông qua các hành vi biếu tặng (don) và đáp tặng (contre-don) trong cuốn sách nổi tiếng Luận về biếu tặng.

[11] “Các đoạn trích từ sách The Gift”, R.Jon McGee, Richard L. Warms: Lý thuyết nhân loại học - Giới thiệu lịch sử, (trang 141 -156)

[12] R. Jon Mcgee –Richard L. Warms, Lí thuyết nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Thuyết cấu trúc, trang 148-149, Nxb Từ điển Bách Khoa 2010

[13] ITAMAR EVEN-ZOHAR is Professor Emeritus of Culture Research, Tel Aviv University. He has been Porter Chair Professor of Semiotics and Literary Theory (1990-2009), coordinator of the Culture Research Group (1993-1995), and Chairperson of Unit of Culture Research, Tel Aviv University (1995-2007). Elected in April 2014 Honorary Member, Austrian Academy of Sciences, Division of Humanities and the Social Sciences.

( https://www.tau.ac.il/~itamarez/ez_vita/ez-eng.htm)

(ITAMAR EVEN-ZOHAR là Giáo sư danh dự về Nghiên cứu Văn hóa, Đại học Tel Aviv. Ông từng là Giáo sư về Ký hiệu học và Lý thuyết Văn học (1990-2009), điều phối viên của Nhóm Nghiên cứu Văn hóa (1993-1995), và Chủ tịch Đơn vị Nghiên cứu Văn hóa, Đại học Tel Aviv (1995-2007). Được bầu vào tháng 4 năm 2014, là thành viên danh dự, Viện Hàn lâm Khoa học Áo, Ban Khoa học Xã hội và Nhân văn.

[15] Imatar Even Zohar, (2014), Lí thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương, Trần Hải Yến, Nguyễn Đào Nguyên dịch, Nxb Thế Giới

[16] Jean Paul Sartre - Ông là một trong những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của chủ nghĩa hiện sinh, và một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nền triết học Pháp thế kỷ 20 và chủ nghĩa Marx.

[17] Các nhà triết sử thường chia triết học Tây phương làm hai trường phái, căn cứ vào cách thức làm triết học và vào loại chủ đề nghiên cứu cá biệt. Tuy sự phân chia và so sánh nào cũng không tránh khỏi khiên cưỡng, nhưng nói chung họ dùng lối gọi truyền thống triết học phân tích để nói tới các triết gia thao tác ở Anh và Bắc Mỹ, và truyền thống triết học lục địa để nói tới các triết gia thao tác ở Châu Âu.

[18] Khoa chú giải văn bản cổ (đặc biệt là về Kinh Thánh)

[19] John Langshaw Austin (1911 –1960) là nhà triết học ngôn ngữ người Anh và là người đề xướng hàng đầu cho triết học ngôn ngữ thông thường (– Ordinary language philosophy: Triết học ngôn ngữ thông thường là một phương pháp luận triết học xem các vấn đề triết học truyền thống bắt nguồn từ sự hiểu lầm mà các nhà triết học phát triển bằng cách bóp méo hoặc quên những từ thực sự có nghĩa trong sử dụng hàng ngày) có lẽ được biết đến nhiều nhất với việc phát triển lý thuyết về hành vi lời nói.

[20] Julia Kristeva (sinh ngày 24 tháng 6 năm 1941) là một nhà triết học người Pháp gốc Bulgaria, nhà phê bình văn học, ký hiệu học, nhà phân tâm học, nhà nữ quyền và gần đây nhất là tiểu thuyết gia. Tên tuổi của bà gắn liền với Intertextuality –Lí thuyết liên văn bản

[21] Jacques Derrida và trì biệt ngôn từ, GS.TS Lê Huy Bắc –Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội (Theo tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào số 04) - https://daihoctantrao.edu.vn/khoa-hoc-cong-nghe/jacques-derrida-va-tri-biet-ngon-tu-966.html. Ngày đăng 16.01.2017; Ngày truy cập 01.9.2020

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch