VĂN HÓA LÀ GÌ? / H. Spencer-Oatey/ Người dịch: Hà Hữu Nga

 VĂN HÓA LÀ GÌ?

 H. Spencer-Oatey

Người dịch: Hà Hữu Nga

 http://kattigara-echo.blogspot.com/2015/05/van-hoa-la-gi.html

(Trịnh Ngọc Linh sưu tầm, giới thiệu và định dạng lại cho các bạn tiện theo dõi)

(Xin vui lòng ghi rõ tên tác giả, nguồn, tạp chí trước khi trích dẫn.)


Văn hóa là một thuật ngữ rất khó định nghĩa. Năm 1952, các nhà nhân chủng học người Mỹ, Kroeber và Kluckhohn, đã đánh giá có phê phán các khái niệm và định nghĩa về văn hóa, và đưa ra một danh sách của 164 định nghĩa khác nhau. Apte (1994: 2001), viết trong Bách khoa Toàn thư Mười tập về Ngôn ngữ và Ngôn ngữ học, tóm tắt vấn đề như sau: "Mặc dù một thế kỷ nỗ lực nhằm định nghĩa dầy đủ về văn hóa, nhưng đến đầu những năm 1990 vẫn không đạt được sự thỏa thuận giữa các nhà nhân học về bản chất của nó”. Trích dẫn sau từ Avruch cung cấp một quan điểm lịch sử về một số cách thức giải thích thuật ngữ này: Phần lớn các khó khăn [của việc nhận thức khái niệm văn hóa] bắt nguồn từ tập quán khác nhau trong việc sử dụng thuật ngữ này kể từ khi nó được sử dụng ngày càng nhiều trong thế kỷ XIX. Nói chung, nó đã được sử dụng theo ba cách (ngày nay, tất cả những cách thức này đều vẫn có thể được tìm thấy).

Thứ nhất, như được minh họa bằng ví dụ trong công trình Văn hoá và Tình trạng Vô chính phủ (1867) của Matthew Arnolds, văn hóa được quy về các nỗ lực hoặc các sản phẩm nghệ thuật hoặc trí tuệ đặc biệt, những gì mà ngày nay chúng ta có thể gọi là "văn hóa thượng lưu" trái ngược với "văn hóa đại chúng" (hoặc "các cách thức dân dã" trong cách sử dụng trước đó). Theo định nghĩa này, chỉ có một phần - thường là một phần nhỏ - của một nhóm xã hội bất kỳ "có" văn hóa. (Phần còn lại là các nguồn hỗn loạn tiềm tàng!). Cảm giác này về văn hóa có liên quan chặt chẽ với tính thẩm mỹ hơn là với khoa học xã hội.

Thứ hai, một phần trong phản ứng đối với việc thói quen sử dụng này, mà người đi tiên phong là Edward Tylor trong Văn hóa Nguyên thủy (1870), đã quy về phẩm chất mà tất cả mọi người có được ở tất cả các nhóm xã hội, cho dù các nhóm ấy có thể được dàn hàng dựa trên sự phát triển (tiến hóa) liên tục (theo lược đồ của Lewis Henry Morgan) từ "mông muội" qua "dã man" đến "văn minh". Rất đáng trích dẫn nguyên vẹn định nghĩa của Tylor; trước hết bởi vì nó đã trở thành một nền tảng cho nhân học; và thứ hai, vì nó phần nào giải thích tại sao Kroeber và Kluckhohn lại tìm thấy sức sinh sản xác định vào đầu những năm 1950. Định nghĩa về văn hóa của Tylor là "toàn bộ phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán, và bất kỳ khả năng và thói quen nào khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội". Ngược lại với quan điểm của Arnold, tất cả các tộc người "có" văn hóa, mà họ đạt được bằng phẩm chất của các thành viên trong một nhóm xã hội nào đó - một xã hội tổng thể. Và toàn bộ những sự vật, từ tri thức, các thói quen đến các năng lực, làm thành nền văn hóa. Tính cực kỳ độc đáo của định nghĩa Tylor được lưu lại cùng với nhân học một thời gian dài; nó là một lý do mà các nhà khoa học chính trị bắt đầu quan tâm đến các câu hỏi về văn hóa vào cuối những năm 1950 cảm thấy cần thiết phải phân định lĩnh vực văn hóa có liên quan của họ thành "văn hóa chính trị". Nhưng di sản lớn nhất của định nghĩa của Tylor nằm trong cái công thức "toàn bộ phức hợp" của ông. Công thức này được ngay cả các nhà nhân học chấp nhận, và sau này chính họ lại mạnh mẽ bác bỏ tiến hóa luận của ông. Họ lấy định nghĩa đó để nói rằng các nền văn hóa là các toàn bộ - các hệ thống tích hợp. Mặc dù khẳng định này có giá trị tìm tòi rất lớn, nhưng nó cũng - như chúng ta sẽ thảo luận dưới đây - đơn giản hoá thế giới một cách đáng kể.

Thứ ba, việc sử dụng cuối cùng của khái niệm văn hóa được phát triển trong các công trình nhân học thế kỷ XX của Franz Boas và các học trò của ông, mặc dù có gốc rễ trong các tác phẩm thuộc thế kỷ XVIII của Johann von Herder. Vì Tylor đã phản ứng với Arnold để xác lập một cơ sở khoa học (chứ không phải là thẩm mỹ) cho văn hóa, cho nên Boas đã phản ứng chống lại Tylor và các nhà tiến hóa luận xã hội khác. Trong khi đó, các nhà tiến hóa lại nhấn mạnh đặc tính phổ quát của một nền văn hóa duy nhất, với các xã hội khác nhau dàn hàng từ mông muội đến văn minh, Boas nhấn mạnh tính độc đáo của nhiều nền văn hóa đa dạng của các dân tộc hoặc các xã hội khác nhau. Hơn nữa, ông đã bác bỏ các phán đoán giá trị mà ông thấy vốn có ở cả quan điểm của Arnold và quan điểm của Tylor về văn hóa; đối với Boas, không bao giờ nên phân biệt văn hóa từ cao đến thấp, và người ta không được định giá trị cho các nền văn hóa là dã man hay văn minh. Do đó, đây là ba cách hiểu rất khác nhau về văn hóa. Một phần của sự khó khăn về thuật ngữ nằm trong tính đa nghĩa của nó. Nhưng để dàn xếp ổn thỏa các vấn đề, thì các khó khăn đó không chỉ đơn thuần là về phương diện khái niệm hay ngữ nghĩa. Tất cả các thói quen sử dụng và cách hiểu đi kèm, hoặc có thể được gắn vào các chương trình nghị sự chính trị hay ý thức hệ khác nhau, ở dạng này hay dạng khác, cho đến hôm nay vẫn gây được tiếng vang. [Avruch 1998: 6-7]

Sự phản chiếu

Nhìn vào các định nghĩa sau đây về văn hóa, và xem xét các đặc trưng của văn hóa mà mỗi định nghĩa đều thu hút sự chú ý: - 'Văn hóa ...là toàn bộ phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán, và bất kỳ khả năng và thói quen nào khác mà con người đạt được với tư cách là một thành viên của xã hội". (Tylor - nhà nhân học người Anh, 1870: 1; được Avruch trích dẫn năm 1998: 6). - "Văn hóa bao gồm các mô thức, ngầm ẩn và rõ ràng, của / và về các hành vi đạt được và truyền lại bằng các biểu tượng, tạo thành những thành tựu đặc biệt của các nhóm người, bao gồm cả hiện thân của họ trong hiện vật; cốt lõi thiết yếu của văn hóa bao gồm các ý tưởng truyền thống (tức là nguồn gốc và lựa chọn về phương diện lịch sử) và đặc biệt là các giá trị đi kèm; một mặt, các hệ thống văn hóa có thể được coi là sản phẩm của hành động, mặt khác, được coi là các yếu tố điều kiện của hành động trong tương lai”. (Kroeber và Kluckhohn 1952: 181; được Adler trích dẫn năm 1997: 14). - "Văn hóa bao gồm các phát sinh của kinh nghiệm, ít nhiều được tổ chức, được học hỏi hoặc được tạo ra bởi các cá nhân của một dân số, bao gồm cả những hình ảnh hoặc các hệ thống mã hóa và những cách diễn giải chúng (các ý nghĩa) được truyền từ thế hệ trước, từ người đương thời, hoặc được hình thành bởi bản thân các cá nhân". (T.Schwartz 1992; được Avruch trích dẫn 1998: 17). - “[Văn hóa] là sự lập trình tập thể của tư duy phân biệt các thành viên của một nhóm hoặc thể loại của một dân tộc này với một dân tộc khác”. (Hofstede 1994: 5). - “[Văn hóa]… tập hợp các thái độ, giá trị, niềm tin và hành vi được một nhóm người chia sẻ, nhưng khác nhau đối với mỗi cá nhân, được truyền từ thế hệ này đến thế hệ kế tiếp”. (Matsumoto 1996: 16). - "Văn hóa là một tập mờ của các giả định và các giá trị, định hướng cơ bản đối với cuộc sống, các niềm tin, chính sách, thủ tục và quy ước hành vi được chia sẻ bởi một nhóm người, và ảnh hưởng (nhưng không quyết định) đến hành vi của mỗi thành viên và những cách diễn giải của họ về "ý nghĩa" hành vi của nhóm người khác". (Spencer-Oatey 2008: 3).

Một số đặc điểm chính của Văn hóa

1. Văn hóa được thể hiện ở các lớp chiều sâu khác nhau

Trong việc phân tích nền văn hóa của một nhóm hoặc tổ chức cụ thể, người ta mong muốn phân biệt được ba cấp độ cơ bản mà văn hóa tự thể hiện rõ: (a) các hiện vật có thể quan sát được, (b) các giá trị, và (c) các giả định đề cơ bản. Khi một người tham gia vào một tổ chức thì người ta quan sát được và cảm nhận được các hiện vật của nó. Thể loại này bao gồm tất cả mọi thứ từ cách bố trí vật lý, chuẩn mực ăn mặc, cách thức mà mọi người giao tiếp với nhau, mùi vị và cảm nhận về vị trí, cường độ cảm xúc, và những hiện tượng khác, đến các biểu hiện lưu trữ lâu bền hơn như hồ sơ công ty, sản phẩm, các tuyên bố về phương châm, và các báo cáo hàng năm. [Schein 1990: 111] Cấp độ [các hiện vật có thể nhìn thấy] phân tích này là rất tinh tế bởi vì các dữ liệu dễ dàng có được nhưng lại khó giải thích. Chúng ta có thể mô tả một nhóm người tạo dựng môi trường của họ “như thế nào” và những mô thức hành vi "gì" của các thành viên có thể thấy rõ, nhưng chúng ta thường không thể hiểu được logic cơ bản - "tại sao" một nhóm người lại hành xử theo cách đó. Để phân tích lý do tại sao các thành viên hành xử theo cách họ làm, chúng ta thường tìm kiếm các giá trị chi phối hành vi, đó là mức độ thứ hai. Tuy nhiên, vì các giá trị khó có thể quan sát trực tiếp, nên người ta thường cần phải suy diễn bằng cách phỏng vấn các thành viên chủ chốt của tổ chức, hoặc hài long với việc phân tích hiện vật chẳng hạn như các tài liệu và điều lệ. Tuy nhiên, trong việc xác định các giá trị như vậy, chúng ta cần lưu ý rằng họ chỉ đại diện chính xác cho các giá trị hiển nhiên hoặc được tán thành của một nền văn hóa. Đó là họ tập trung vào những gì mà mọi người nói là nguyên do cho hành vi của họ, những gì mà họ thực sự mong muốn đó chính là những nguyên do kia, và những gì thường là những quá trình duy lý hóa đối với hành vi của họ. Tuy nhiên, những lý do cơ bản cho hành vi của họ vẫn được giấu kín hoặc vô thức. Để thực sự hiểu một nền văn hóa và để xác quyết trọn vẹn hơn về các giá trị và hành vi của nhóm, thì bắt buộc phải đi sâu vào các giả định đề cơ bản, thường vô thức nhưng lại thực sự quyết định cách thức mà các thành viên trong nhóm cảm nhận, suy tư và nhận thức. Các giả định đề như vậy tự thân chúng là những phản ứng học hỏi được, có nguồn gốc như là các giá trị được tán thưởng. Nhưng, như một giá trị dẫn đến một hành vi, và khi hành vi đó bắt đầu giải quyết vấn đề gợi ra ở vị trí đầu tiên, thì giá trị đó dần dần được chuyển đổi thành một giả định đề cơ bản về cách thức mà sự vật thực sự trở thành bản thân nó. Vì giả định đề ấy ngày càng được cho là hiển nhiên, nên nó biến mất khỏi nhận thức. Các giả định đề được coi là hiển nhiên ấy sở dĩ mạnh mẽ như vậy bởi vì chúng là những giá trị ít gây tranh cãi và có thể đương đầu hơn là các giá trị tán thành. Chúng ta biết mình đang phải đối phó với một giả định khi chúng ta bị những người cung cấp thông tin từ chối thảo luận về một điều gì đó, hoặc khi họ coi chúng ta là "điên" hay "dốt nát" vì đưa ra một vấn đề nào đó. Ví dụ, quan niệm cho rằng các doanh nghiệp nên có lợi nhuận, trường học nên dạy học, hoặc thuốc nên kéo dài cuộc sống là những giả định, mặc dù chúng thường được "đơn thuần" coi là các giá trị. Nói cách khác, lĩnh vực các giá trị có thể được chia thành (1) các giá trị hiển nhiên, tối hậu, không gây tranh cãi, đối với nó thuật ngữ "các giả định" là thích hợp hơn cả; và (2) các giá trị gây tranh cãi, công khai, được tán thưởng, đối với nó thuật ngữ "các giá trị" có thể đắc dụng hơn. Khi khẳng định rằng các giả định cơ bản là vô thức, tôi không cho rằng đây là một kết quả của sự kiềm chế. Ngược lại, tôi cho rằng vì những quá trình động lực và nhận thức được lặp đi lặp lại và tiếp tục vận hành, nên chúng trở thành vô thức. Chúng có thể được đưa trở lại để nhận thức chỉ thông qua một loại truy vấn tập trung, tương tự với loại truy vấn được các nhà nhân học sử dụng. Điều cần thiết là những nỗ lực của cả người trong cuộc đưa ra các giả định đề vô thức và người ngoài cuộc giúp phát hiện ra các giả định đề đó bằng cách yêu cầu loại câu hỏi đúng. [Schein 1984: 3-4]

2. Văn hóa ảnh hưởng đến hành vi và giải thích về hành vi

Hofstede (1991: 8) đưa ra một vấn đề quan trọng là mặc dù một số khía cạnh về văn hóa có thể hữu hình về phương diện vật chất, nhưng ý nghĩa của chúng thì lại vô hình: "ý nghĩa văn hóa của chúng...chính xác và chỉ nằm trong cách thức mà các thực hành này được giải thích bởi những người trong cuộc." Ví dụ, một cử chỉ chẳng hạn như 'vòng tròn ngón tay' (ngón cái và ngón trỏ chạm vào nhau) có thể được hiểu như là truyền đạt thỏa thuận, phê duyệt hoặc chấp thuận ở Mỹ, Anh và Canada, nhưng lại là một sự xúc phạm hoặc cử chỉ tục tĩu ở một số quốc gia Địa Trung Hải. Tương tự như vậy, sự lựa chọn trang phục có thể được giải thích khác nhau của các nhóm người khác nhau, theo khuôn khổ xác định về sự giàu có, phô trương, tính phù hợp, …v.v. Các ví dụ sau đây minh họa cho điều đó: Ví dụ 1: Tôi quan sát các sự kiện sau đây tại một lớp học mẫu giáo của trẻ em Da đỏ Navajo: Một người đàn ông Navajo mở cửa vào lớp mẫu giáo và đứng yên lặng, nhìn vào sàn nhà. Cô giáo người Mỹ gốc Anh nói "Xin chào" và chờ đợi, nhưng người đàn ông kia không trả lời. Sau đó cô giáo nói "Tôi là cô giáo Jones,” và lại đợi một câu trả lời. Vẫn không có gì. Trong khi đó, một đứa trẻ trong căn phòng ném bỏ những chiếc bút chì màu và đứng dậy với chiếc áo khoác trên mắc áo. Giáo viên thấy thế, nói với người đàn ông, "Thế, anh đến đón Billy à?” Ông ta nói, 'Vâng'. Cô giáo tiếp tục nói chuyện với người đàn ông trong khi Billy đã sẵn sàng để về, cô nói, 'Billy là một cậu bé rất ngoan,' 'Tôi rất vui khi cháu đến học,' vv. Billy đi về phía người đàn ông (cha mình), dừng bước, quay lại và vẫy tay chào cô giáo, vừa bước ra vừa nói, "Bye[1]bye." Giáo viên trả lời: "Bye-bye". Người đàn ông vẫn im lặng khi ra về. Từ quan điểm của một người Navajo, sự im lặng của người đàn ông là thích hợp và tôn trọng. Nhưng về phía cô giáo, cô nghĩ rằng người đàn ông đó không chỉ chào hỏi cô, mà còn giới thiệu về bản thân và nói rõ lý do có mặt tại lớp học. Mặc dù một kỳ vọng như vậy là khá hợp lý và thích hợp từ quan điểm của một người Mỹ gốc Anh, nó đòi hỏi người đàn ông kia không chỉ phá vỡ các quy tắc lịch sự của người Navajo mà còn là một điều cấm kỵ tôn giáo truyền thống nghiêm cấm các cá nhân nói tên riêng của mình. Cô giáo giải thích các cách xử lý thích hợp trong bối cảnh đó một cách chính xác bằng câu trả lời cho câu hỏi của chính mình ("Anh đến đón Billy à?" và sau đó tiếp tục chuyện trò đôi chút. Người đàn ông tiếp tục im lặng một cách thích hợp. Billy, là người được dạy dỗ nhiều hơn so với cha mình về các cách thức giao tiếp Anh - Mỹ, đã phá vỡ các quy tắc Navajo để đi theo người Anh - Mỹ trong trường hợp được đón về ấy. Cuộc gặp gỡ này chắc chắn đã củng cố khuôn mẫu của cô giáo cho rằng người Navajos là những kẻ "bất lịch sự" và "không phải phép", và cũng củng cố khuôn mẫu của người đàn ông cho rằng người Anh-Mỹ là những kẻ "bất lịch sự" và "quá nhiều lời." [Saville-Troike 1997: 138-9] Ví dụ 2: Lần đầu tiên tôi thấy ván trượt băng bằng vỏ dừa. Tôi chắc chắn đó là một trò đùa mà tôi bật cười thành tiếng. Một vẻ mặt cau có ngoái lại đủ để tôi biết rằng tôi đã hoàn toàn hiểu lầm tình hình. Tại Philippines một người giúp việc có xu hướng coi đó là công việc, đặc biệt là khi làm việc cho người Mỹ. Nhưng ở đó cô đi chân trần là bình thường, với một nửa vỏ quả dừa dưới mỗi bàn chân rộng, trượt quanh căn phòng một cách hệ thống. Vì vậy, giúp tôi, trượt đi. Nếu việc thực hiện điều này không phải để giải trí hoặc cho tôi hoặc cho cô (và khuôn mặt của cô cho biết đó không phải là giải trí), sau đó cô đã quên ngay. Đó không phải là lần đầu tiên, cũng không phải là cuối cùng, mà giả thiết làm việc của tôi cho rằng một người dân địa phương nào đó, chí ít đã là một kẻ mất trí bán thời gian. Tôi lùi ra ngoài và tản bộ xuống hành lang, cố gắng trông có vẻ lãnh đạm và không quan tâm. "Ismelda ... Ismelda đang trượt băng trong phòng khách," tôi nói với Maria, còn cô thậm chí không buồn nhìn lên khỏi chiếc máy chữ trên bàn. "Vâng, hôm nay là thứ Năm, phải không." ... "Có phải cô ấy chỉ trượt vào ngày thứ Năm? Thế là tốt rồi," tôi nói khi tôi đánh bài lảng một cách vụng về khỏi căn phòng làm việc nhỏ của Maria. "Ô, chắc cô muốn hỏi là lý do tại sao cô ấy lại trượt băng - đúng không" Mary gọi với theo tôi. "Vâng, tôi e đó là câu hỏi chính," tôi trả lời. Mary, người đã thực hiện một phần việc đào tạo định hướng tiền hiện trường trong một cuộc hội thảo của tôi, quyết định cho tôi một liều thuốc giải: "Ra ngoài đó mà xem cô ta trượt; sau đó trở lại và cho tôi biết cô thấy những gì." Và tôi đã làm đúng như vậy. Cái máy chữ của cô vẫn lách cách, hầu như không thiếu nhịp nào, cho đến khi tôi kêu lên từ hành lang phòng khách, "Tôi đã hiểu rồi!" "Vâng, tốt cho cô; cô không bao giờ quá già để học hỏi nhỉ." Giọng nói của Mary có chút mỉa mai trong đó ngay lập tức khiến tôi hiểu ra là mình không biết cách lắng nghe người khác. Và trong khi tiếng máy chữ vẫn lách cách, tôi đứng đó ngắm nhìn sàn gỗ cứng bóng lộn vẻ tự nhiên, dầu dừa, được áp dụng bằng một phương pháp rất hiệu quả của Đông Nam Á. [Ward 1984; được Lustig và Koester trích dẫn 1999: 41]

3. Văn hóa có thể được phân biệt với bản chất con người phổ quát và tính cách cá nhân độc đáo

Văn hóa được học hỏi, mà không được thừa kế. Nó bắt nguồn từ môi trường xã hội của một người, mà không phải từ nguồn di truyền của một người. Một mặt, văn hóa nên được phân biệt với bản chất con người, và mặt khác, phân biệt với cá tính của một cá nhân, mặc dù chính xác nơi các ranh giới nằm giữa bản chất con người và văn hóa, giữa văn hóa và nhân cách, là một vấn đề luôn được các nhà khoa học xã hội thảo luận. Bản chất con người là những gì tất cả mọi người, từ các giáo sư Nga đến người thổ dân Úc, đều có điểm chung: nó thể hiện mức phổ quát trong phần mềm tinh thần của một con người. Nó được thừa kế bằng nguồn gen của con người; tương tự máy tính , nó là “hệ điều hành” quyết định chức năng tâm lý cơ bản và thể chất của con người. Khả năng con người cảm thấy sợ hãi, tức giận, tình yêu, niềm vui, nỗi buồn, sự cần thiết phải liên kết với những người khác, để vui chơi và rèn luyện chính mình, điều kiện dễ dàng để quan sát môi trường và nói về nó với người khác, tất cả đều thuộc về cấp độ ấy của việc lập trình tinh thần. Tuy nhiên, những gì con người thực hiện với những cảm xúc này, làm thế nào mà người ta thể hiện được sự sợ hãi, niềm vui, các quan sát, …v.v, đều biến đổi theo văn hóa. Bản chất con người không phải là "con người" như thuật ngữ đó cho thấy, bởi vì một số khía cạnh nhất định của nó còn được chia sẻ với các bộ phận của thế giới động vật. Mặt khác, nhân cách của một cá nhân, là tập hợp tính cách duy nhất của các chương trình tinh thần của một con người, mà người đó không chia sẻ với bất cứ người nào khác. Nó có cơ sở ở những đặc điểm mà một phần được thừa kế với bộ gien di truyền duy nhất của cá nhân và một phần đã được học hỏi. 'Học hỏi' có nghĩa là: bị biến đổi bởi ảnh hưởng của sự lập trình tập thể (văn hóa) cũng như các kinh nghiệm cá nhân duy nhất. Các đặc điểm văn hóa thường được cho là do di truyền, vì các nhà triết học và các học giả khác trong quá khứ đã không biết làm thế nào để giải thích bằng cách khác về tính bền vững đáng kể của các khác biệt trong các mô thức văn hóa giữa các nhóm người. Họ đánh giá thấp tác động của việc học hỏi từ các thế hệ trước và của việc dạy dỗ cho một thế hệ tương lai những gì mình đã học được. Vai trò của di truyền được phóng đại trong các giả lý thuyết về chủng tộc, là kẻ phải chịu trách nhiệm, cùng những tội đồ khác, cho các trại tập trung Holocaust do Đức quốc xã tổ chức trong Thế chiến II. Xung đột chủng tộc và dân tộc thường được biện minh bằng lập luận vô căn cứ của tính ưu việt và thấp kém về văn hóa. [Hofstede 1994: 5-6]

4. Văn hóa ảnh hưởng đến các quá trình sinh học

Nếu chúng ta dừng lại để xem xét, thì đại đa số các hành vi có ý thức của chúng ta đều đạt được thông qua học tập và tương tác với các thành viên khác trong nền văn hóa của chúng ta. Ngay cả những câu trả lời đó cho các nhu cầu thuần túy sinh học (có nghĩa là, ăn, ho, đi ngoài) thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hóa của chúng ta. Ví dụ, tất cả mọi người đều có chung một nhu cầu sinh học về thực phẩm. Trừ khi một lượng calo tối thiểu được tiêu thụ, thì nạn đói sẽ xảy ra. Vì vậy, tất cả mọi người đều phải ăn uống. Nhưng chúng ta ăn gì, thường xuyên đến mức độ nào, chúng ta ăn bao nhiêu, ăn với ai, và theo những quy tắc nào, ít nhất là một phần cũng được quy định bởi nền văn hóa của chúng ta. Clyde Kluckhohn, một nhà nhân học đã dành nhiều năm ở Arizona và New Mexico nghiên cứu người Navajo, đã cung cấp cho chúng ta một ví dụ về việc văn hóa tác động ra sao đến các quá trình sinh học: "Tôi đã từng biết bà vợ của một thương nhân ở Arizona đã quan tâm phần nào đến ma thuật trong việc gây ra một phản ứng văn hóa. Những người khách đến chỗ bà ta thường được phục vụ bánh sandwich ngon nhồi đầy thịt, có vẻ không phải thịt gà cũng không phải cá ngừ mà giống như cả hai. Bà ta không trả lời các câu hỏi khi khách chưa ăn no. Sau đó bà ta giải thích rằng những gì họ đã ăn không phải thịt gà, cũng không phải cá ngừ, mà là thịt rắn chuông. Phản ứng tức thời - nôn ra, thường là nôn thốc nôn tháo. Một quá trình sinh học bị nhiễm vào một mạng văn hóa. (1968: 25-26) Đây là một minh họa đầy ấn tượng về việc văn hóa có thể tác động ra sao đến các quá trình sinh học. Thực tế là, trong trường hợp này, quá trình sinh học tự nhiên của sự tiêu hóa không chỉ bị ảnh hưởng, mà nó còn bị đảo chiều. Một phần học được trong văn hóa của chúng ta (đó là, ý tưởng cho rằng thịt rắn chuông là một thứ ghê tởm không thể ăn được) thực sự gây ra sự gián đoạn đột ngột của quá trình tiêu hóa bình thường. Rõ ràng không có gì trong thịt rắn chuông khiến cho người ta phải nôn ra, đối với những người đã nội tại hóa ý tưởng đối lập, cho rằng thịt rắn chuông nên ăn, thì không hề có sự đảo chiều đường tiêu hóa như vậy. Những hiệu ứng của ý tưởng được tạo ra về phương diện văn hóa đối với cơ thể chúng ta và quá trình tự nhiên của chúng có nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ, các trường hợp kiểm soát tự nguyện các phản xạ đau đớn được tìm thấy trong một số nền văn hóa trên khắp thế giới. ... Cũng có vô số ví dụ dân tộc học khó mà kể hết ra được, nhưng liệu chúng ta đang nhìn những người đàn ông Cheyenne tham gia vào Vũ hội Mặt trời, những người Fiji bước đi trên lửa, hoặc phụ nữ Mỹ thực hành Lamaze (phòng bệnh tâm lý) phương pháp sinh con, thì nguyên tắc đều như nhau: mọi người học hỏi các ý tưởng từ các nền văn hóa của họ mà khi được nội tại hóa thì nó thực sự có thể là trải nghiệm về nỗi đau đớn. Nói cách khác, một thành phần của văn hóa (có nghĩa là, ý tưởng) có thể khơi thông hoặc tác động ảnh hưởng về phương diện sinh học dựa trên các phản xạ đau đớn. [Ferraro 1998: 19-20]

5. Văn hóa được liên kết với các nhóm xã hội

Văn hóa được chia sẻ bởi ít nhất hai hoặc nhiều người hơn, và dĩ nhiên các xã hội sống, thực sự luôn rộng lớn hơn thế. Nói cách khác, không có loại sự vật chẳng hạn như nền văn hóa của một ẩn sĩ. Nếu một cá nhân đơn độc suy nghĩ và hành xử theo một cách thức nhất định, thì suy nghĩ hay hành động đó chỉ mang phong cách riêng, mà không phải thuộc về văn hóa. Vì một ý tưởng, một sự vật hay một hành vi phải được coi là văn hóa, nên nó phải được chia sẻ bởi một loại nhóm xã hội hay xã hội tổng thể nào đó. [Ferraro 1998: 16] Vì hầu hết tất cả mọi người đều thuộc về một số nhóm khác nhau và đồng thời cũng là các loại người khác nhau, nên người ta không thể tránh khỏi mang theo một vài lớp lập trình tinh thần trong bản thân mình, tương ứng với các cấp độ văn hóa khác nhau. Ví dụ như: i) cấp độ quốc gia (hoặc nước đối với những người di cư trong cuộc đời của họ); ii) cấp độ vùng và / hoặc tộc người và / hoặc tôn giáo và / hoặc ngôn ngữ, vì hầu hết các quốc gia đều bao gồm các vùng và / hoặc tộc người và / hoặc tôn giáo và / hoặc các nhóm ngôn ngữ khác nhau; iii) cấp độ giới tính, theo cách xác định một người được sinh ra là con gái hay con trai; iv) cấp độ thế hệ, tách biệt ông bà khỏi cha mẹ khỏi con cái; v) cấp độ thể loại vai trò, ví dụ cha mẹ, con trai / con gái, giáo viên, học sinh; vi) cấp độ đẳng cấp xã hội, kết hợp với các cơ hội giáo dục, nghề nghiệp hoặc chuyên môn; vii) cấp độ tổ chức hoặc công ty theo cách nhân viên đã được xã hội hóa bởi phương thức tổ chức công việc của họ. [Hofstede 1991: 10] Vì vậy, trong ý nghĩa này, tất cả mọi người đồng thời là thành viên của các nhóm văn hóa khác nhau và do đó có thể nói phải có tư cách thành viên đa văn hóa. Các cá nhân được tổ chức theo nhiều cách tiềm tàng khác nhau trong một dân số, bởi nhiều tiêu chí khác nhau (và xuyên suốt): ví dụ, bằng mối quan hệ thân tộc với các gia đình hoặc thị tộc; bằng ngôn ngữ, chủng tộc hay tín ngưỡng với các nhóm tộc người; bằng các đặc trưng kinh tế-xã hội với các gia cấp xã hội; theo vùng địa lý với các nhóm lợi ích chính trị; và theo nghề nghiệp hoặc các tư cách thành viên thể chế với các nghiệp đoàn, các tổ chức quan liêu, các ngành công nghiệp, các đảng chính trị, và quân đội. Hệ thống xã hội càng phân biệt và phức tạp, thì càng có nhiều nhóm và các thể chế tiềm tàng. Và bởi vì mỗi nhóm thể chế đặt các cá nhân vào các thế giới kinh nghiệm khác nhau, và bởi vì văn hóa xuất phát một phần từ kinh nghiệm ấy, nên mỗi nhóm và các thể chế ấy có thể là một nơi tích trữ tiềm năng cho văn hóa. Do đó không một dân số nào có thể được đặc trưng hóa đầy đủ như là một nền văn hóa duy nhất hoặc bởi một ký hiệu nhận diện văn hóa duy nhất. Hệ quả là, một dân số cang được tổ chức phức tạp dựa trên các cơ sở xã hội học (giai cấp, khu vực, tộc người, …vv), thì các bản đồ văn hóa của nó có vẻ sẽ càng phức tạp. Đó chính là lý do tại sao mà khái niệm "(các) tiểu văn hóa" lại cần thiết. [Avruch 1998: 17-18]

6. Văn hóa vừa là một cấu trúc riêng vừa là một cấu trúc xã hội

“... Văn hóa giống như một cấu trúc tâm lý cá nhân, vì nó là một cấu trúc xã hội. Ở một mức độ nhất định, văn hóa tồn tại trong mọi con người chúng ta với tư cách cá nhân cũng hệt như nó tồn tại với tư cách là một cấu trúc xã hội toàn cầu vậy. Những khác biệt cá thể trong văn hóa có thể được quan sát thấy ở những con người ở mức độ mà họ chấp nhận và cam kết với các thái độ, giá trị, niềm tin, và hành vi, bởi sự đồng thuận, tạo thành nền văn hóa của họ. Nếu bạn hành động phù hợp với các giá trị hoặc hành vi đó, thì cái văn hóa đó cư trú trong bạn; nếu bạn không chia sẻ các giá trị hoặc hành vi đó, thì bạn cũng không chia sẻ nền văn hóa đó. Trong khi các chuẩn mực của bất kỳ nền văn hóa nào cũng cần phù hợp với toàn bộ những con người trong nền văn hóa đó, thì thật sự là những chuẩn mực đó sẽ phù hợp với những con người khác nhau ở các mức độ khác nhau. Sự pha trộn thú vị này của văn hóa có thể thấy trong nhân học và xã hội học với tư cách là một khái niệm vĩ mô và trong tâm lý học với tư cách là một cấu trúc cá thể làm cho việc nhận thức văn hóa trở nên khó khăn nhưng hấp dẫn. Trong quá khứ, chúng ta đã thất bại không nhận ra được sự tồn tại của những khác biệt riêng lẻ trong các cấu trúc và các khái niệm về văn hóa chắc chắn đã hỗ trợ cho việc hình thành và duy trì các khuôn mẫu có sẵn”. [Matsumoto 1996: 18] “... Văn hóa là một phái sinh của kinh nghiệm cá nhân, một cái gì đó được học hỏi hoặc được tạo ra bởi bản thân các cá nhân hoặc được truyền cho họ về phương diện xã hội bởi những người đương thời hoặc bởi tổ tiên. ... Một quan niệm về văn hóa như vậy khác với các quan niệm đã thống trị tư duy trong phần lớn khoa học xã hội, đặc biệt là trong các mối quan hệ quốc tế và giải quyết xung đột. Một mặt, trong khái niệm này, văn hóa được xem là một cái gì đó lại càng không ổn định hoặc đồng nhất hơn trong những khái niệm được đề xuất bởi những người khác. Ý tưởng của chúng ta về văn hóa ít tập trung vào việc xây dựng mô thức mà tập trung nhiều hơn vào quá trình nhân thức và xã hội so với những ý tưởng cũ về văn hóa. Mặt khác, bằng cách kết nối văn hóa với các cá nhân và nhấn mạnh số lượng và tính đa dạng của các môi trường xã hội và kinh nghiệm mà các cá nhân gặp phải, chúng ta mở rộng phạm vi tham chiếu của văn hóa để bao gồm không chỉ các nhóm cận- hoặc giả thân tộc (bộ lạc, nhóm tộc người và quốc gia là những phạm vi thông thường) mà còn cả các nhóm xuất phát từ chuyên môn, nghề nghiệp, giai cấp, tôn giáo, hoặc khu vực nữa. Định hướng này hỗ trợ cho ý tưởng cho rằng các cá nhân phản ánh hay thể hiện nhiều nền văn hóa và "văn hóa" luôn luôn được phân phối về mặt tâm lý và xã hội trong một nhóm. So với cách tiếp cận cũ, kết nối một nền văn hóa độc đáo, mạch lạc, và tích hợp với các nhóm xã hội được xác định rõ ràng, thì cách tiếp cận này làm cho các ý tưởng về văn hóa trở nên phức tạp hơn. Sự phức tạp như vậy là cần thiết, bởi vì thế giới của hành động xã hội, bao gồm cả xung đột và giải pháp cho nó, là một vấn đề phức tạp, và chúng ta cần một khái niệm khác để nắm bắt nó”. [Avruch 1998: 5-6]

7. Văn hóa luôn luôn được phân phối trong một nhóm về cả phương diện xã hội và tâm lý, vì vậy việc mô tả các đặc tính của một nền văn hóa luôn luôn mờ.

Văn hóa là một khái niệm 'mờ', trong đó các thành viên của nhóm không có khả năng chia sẻ những tập hợp giống hệt nhau về thái độ, niềm tin …v.v, mà lại cho thấy rõ “các tương đồng về gia đình”, kết quả là không có một tập đặc điểm tuyệt đối có thể phân biệt dứt khoát nhóm văn hóa này với nhóm văn hóa khác. Giả định này [văn hóa được phân bố đồng đều] là không có cơ sở vì hai lý do, một là về di truyền xã hội (liên quan đến các nhóm xã hội và các thể chế) và di truyền tâm lý khác (liên quan đến các quá trình nhận thức và tình cảm đặc trưng của các cá nhân). Lý do đầu tiên là một hệ quả tất yếu của các vấn đề phức tạp xã hội đã nêu ở trên: Tới mức hai cá nhân không có cùng một vị trí xã hội học trong một dân số nhất định (cùng các nền tảng giai cấp, tôn giáo, khu vực, tộc người, chẳng hạn), và tới mức các vị trí này đòi hỏi các khác biệt (tiểu) văn hóa, vì vậy mà hai cá nhân không thể có cùng toàn bộ các nội dung văn hóa một cách hoàn toàn. Đây là lý do di truyền xã hội đối với sự phân bố không đồng nhất của văn hóa. Văn hóa được phân phối về mặt xã hội trong một tập hợp người. Thứ hai, văn hóa duy lý di truyền tâm lý không bao giờ được chia sẻ một cách hoàn hảo bởi các cá nhân trong một tập hợp người (không có vấn đề về việc một tập hợp người được định nghĩa như thế nào về phương diện xã hội học) phải liên quan đến các cách thức mà văn hóa được tìm thấy "trong đó", bên trong cái cá nhân. Ở đây, nói một cách chung rộng, chúng ta đang ở trong lĩnh vực của động thái tâm lý, ít nhất là đối với những cách thức và tình huống mà một cá nhân nhận được hoặc học hỏi được các hình ảnh hoặc các hệ thống mã văn hóa. Bởi vì các ranh giới bộ môn và những mảnh vải bọc mắt ngựa về tri thức luận mà họ thường thực thi, nên các loại quan tâm tâm lý chung này được coi là vượt-giới hạn đối với nhiều nhà khoa học xã hội. Vì lý do này, thậm chí nhiều lý thuyết gia văn hóa có thể ưa thích để suy nghĩ về văn hóa chỉ như là ở "ngoài đó", trong các cấu trúc xã hội và công bố, bao gồm các biểu tượng, tất cả đều hoàn toàn độc lập của tư duy - của nhận thức và ảnh hưởng. Các học giả khác, đặc biệt là thuộc các ngành kinh tế học, hoặc quan hệ quốc tế, như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo, thích hoàn toàn bỏ qua tư duy, bằng cách xử lý nó về cơ bản như là một hiện tượng "hộp đen". Nhưng bằng cách bỏ qua tư duy, trong thực tế họ vẫn không thoát khỏi các vấn đề tâm lý nói chung; họ chỉ đơn thuần là kết thúc việc dựa vào một thứ tâm lý học không được thừa nhận, và khá nguyên thủy. Bằng cách tiếp cận tư duy - nhận thức và ảnh hưởng - chúng ta có thể sắp xếp ra những cách thức mà văn hóa là quan hệ nhân quả, bằng cách lưu ý đến thảo luận ở trên, về sự nguy hiểm của việc vật chất hóa văn hóa đến mức gây ra xung đột một cách ngớ ngẩn. Không phải - không thể như vậy. Nhưng các đại diện văn hóa - hình ảnh và các hệ thống mã, lược đồ và mô hình - đều được các cá nhân nội tại hóa. Chúng không được nội tại hóa ngang bằng nhau hoặc tất cả đều nội tại hóa cùng một cấp độ, tuy nhiên, một số được nội tại hóa một cách thực sự bề ngoài và tương đương với các khuôn sáo văn hóa. Các đại diện khác được nội sâu sắc và được đầu tư bằng tác động cảm xúc. Các đại diện này có thể kích động hành vi bằng cách kết nối với các mục tiêu mong muốn hoặc các trạng thái cuối cùng. Các đại diện càng được nội tại sâu sắc và chuyển tải xúc cảm, thì các hình ảnh hoặc các lược đồ nhất định càng có khả năng thúc đẩy hành động. Đây là ý nghĩa đúng đắn trong đó "văn hóa là quan hệ nhân quả". Nó cũng giải thích cho sự phân phối không đồng dạng của văn hóa, bởi vì đối với hai cá nhân thì ngay cả cùng một đại diện văn hóa (chẳng hạn kết quả là một sự sắp đẳ hoàn toàn chung về phương diện xã hội học) có thể được nội tại hóa một cách khác biệt. Đây là lý do tâm lý cho tình trạng phân phối không đồng dạng của văn hóa. Văn hóa được phân phối về phương diện tâm lý trong một tập hợp dân cư. Trong số hai loại nhà cách mạng, mỗi loại có chung nền tảng và chương trình kinh tế-xã hội, có chung hệ tư tưởng chính trị, có chung sự đối lập trí tuệ với chế độ cầm quyền, nhưng chỉ có một loại là có động cơ (bởi cơn giận dữ? bởi hận thù? bởi chấn thương thời thơ ấu? bởi những gì khác?) để đánh bom. Không ai quan tâm đến việc xung đột xã hội hay giải pháp xung đột có thể vẫn còn xa lạ với các quá trình và các kết nối với thực tiễn xã hội về di truyền tâm lý - nhận thức và tình cảm - [Avruch 1998: 18-20] Giống hệt như không có bệnh dịch nào mà không có các cá thể sinh vật bị nhiễm các loại virus hoặc vi khuẩn cụ thể, không có văn hóa mà không có cơ quan đại diện được phân phối trong não / tâm trí của cá nhân. ..., Không có dịch bệnh nào mà lại không có các cá thể bị mắc bệnh, nhưng việc nghiên cứu về dịch bệnh lại không thể quy giản vào việc nghiên cứu bệnh học cá thể. Từ quan điểm này, các ranh giới của một nền văn hóa nhất định không phải là những ranh giới bất kỳ rõ rệt hơn so với những ranh giới của một dịch bệnh nhất định. Một bệnh dịch liên quan đến một dân số với nhiều cá nhân bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau bởi một chủng vi sinh vật đặc biệt trong một khoảng thời gian liên tục trên một lãnh thổ có ranh giới mờ và không ổn định. Và một nền văn hóa liên quan đến một nhóm xã hội (chẳng hạn như một quốc gia, nhóm sắc tộc, nghề nghiệp, thế hệ, …vv) được xác định trong phạm vi của các đại diện văn hóa tương tự được tổ chức bởi một tỷ lệ đáng kể của các thành viên của nhóm. Nói cách khác, những người đang được nói đến thuộc về cùng một văn hoá ở mức độ là tập hợp các đại diện văn hóa chung của họ là to lớn. [Žegarac 2007: 39-40]

8. Văn hóa vừa có các yếu tố phổ quát (etic) lại vừa có các yếu tố riêng biệt (emic)

Con người nói chung đều có các đặc trưng sinh học trùng khớp và sống trong các cấu trúc xã hội và các môi trường vật lý tương đối giống nhau, tạo ra những tương đồng lớn trong cách thức mà chúng tạo hình các nền văn hóa. Nhưng trong khuôn khổ của các tương đồng vẫn có những khác biệt. Điều tương tự cũng xảy ra với ngôn ngữ. Ngữ âm học xử lý với các âm thanh diễn ra trong tất cả các ngôn ngữ. Âm vị học là các âm thanh chỉ xảy ra trong một ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học Pike (1967) lấy hai âm tiết cuối của các thuật ngữ này để tạo ra từ "etics" cho các yếu tố văn hóa phổ quát và "emics" cho các yếu tố văn hóa cụ thể, duy nhất. Mặc dù một số nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng mọi nền văn hóa đều là duy nhất và theo một nghĩa nào đó thì mọi người trên thế giới này đều là duy nhất, còn khoa học thì phải xử lý những khái quát. Vinh quang của khoa học được nhìn nhận bằng những thành tựu khi nó cho thấy rằng các định luật chi phối sự vận động của các hành tinh và những quả táo rơi đều giống nhau. Vì vậy vấn đề là liệu có hay không các yếu tố emic [người trong cuộc] của văn hóa là rất đáng quan tâm. Khi các yếu tố emic là những thích ứng địa phương của các yếu tố etic [người ngoài cuộc], thì chúng cũng rất đáng quan tâm. Ví dụ, tất cả mọi người đều trải nghiệm khoảng cách xã hội từ các nhóm bên ngoài (một yếu tố etic). Tức là, họ cảm thấy gần gũi hơn với gia đình, người thân của họ và những người người mà họ cho là tương tự với họ hơn là những người mà họ cho là khác mình. Nhưng cơ sở của khoảng cách xã hội thường là một thuộc tính emic: Trong một số nền văn hóa, nó chỉ có cơ sở ở bộ lạc hay chủng tộc; ở những nền văn hóa khác nó lại dựa trên sự kết hợp của tôn giáo, tầng lớp xã hội, và dân tộc tính; ở Ấn Độ, đẳng cấp và ý tưởng về sự bất tịnh trong nghi thức là rất quan trọng. Tóm lại, khoảng cách xã hội là etic; tình trạng bất tịnh về nghi thức là một cơ sở của khoảng cách xã hội, là emic. ... Để tóm tắt về emics và etics, khi chúng ta nghiên cứu các nền văn hóa vì mục đích riêng của chúng, chúng ta có thể tập trung vào các yếu tố emic [người trong cuộc], và khi chúng ta so sánh các nền văn hóa, chúng ta phải nhìn nhận bằng các yếu tố văn hóa etic [người ngoài cuộc]. [Triandis 1994: 20] Tuy nhiên, còn có một cách suy nghĩ khác, có thể có hiệu quả hơn cho sự hiểu biết về các ảnh hưởng văn hóa đối với hành vi của con người. Thay vì xem xét liệu có bất kỳ hành vi nào là etic [ngoài cuộc] hoặc emic [trong cuộc], chúng ta có thể hỏi làm thế nào mà hành vi đó có thể đồng thời vừa là etic lại vừa là emic. Có lẽ các bộ phận hoặc các khía cạnh này của hành vi đó là etic còn các bộ phận khác lại là emic. Chẳng hạn, giả sử bạn đang có một cuộc trò chuyện với một người từ một nền văn hóa khác với văn hóa của bạn. Trong khi bạn nói chuyện với người này, bạn nhận thấy rằng cô ấy không nhìn thẳng vào mắt bạn khi nói, và cô ấy cũng không nhìn vào bạn khi bạn nói. Có đôi lần khi mắt cô ấy bắt gặp cái nhìn của bạn, lập tức cô ấy hướng mắt về một phía nào đó khi gặp ánh mắt của bạn. Từ nền tảng văn hóa, bạn có thể giải thích rằng, cô không cảm thấy rất chủ động về bạn hoặc sự tương tác của bạn. Thậm chí bạn còn có thể bắt đầu cảm thấy muốn dừng lại hoặc không muốn cố giao tiếp nữa. Bạn không cảm thấy tin tưởng hoặc gần gũi với cô ấy. Nhưng nền văn hóa của cô ấy lại không chấp nhận lối nhìn trực diện hoặc thậm chí coi đó là một dấu hiệu của sự kiêu căng hay khinh thường. Cô ấy có thể thực sự tránh tiếp xúc bằng mắt không phải vì bất kỳ cảm xúc tiêu cực nào, mà chỉ vì lòng tôn kính và lịch sự với bạn mà thôi. Tất nhiên, những khác biệt về hành vi này đều có những ý nghĩa hiện thực và thực tế trong cuộc sống hàng ngày; hãy suy nghĩ về kịch bản này xảy ra trong một cuộc phỏng vấn tìm việc làm, trong tình huống dạy-học tại một trường tiểu học, tại một cuộc đàm phán kinh doanh, hoặc thậm chí trong khi gặp gỡ bác sĩ chuyên khoa để khám bệnh. Nếu xem xét hành vi này từ một cực etic-emic, chắc chắn chúng ta sẽ đi đến kết luận rằng hành vi nhìn trực diện phải là một emic về phương diện văn hóa; có nghĩa là, các nền văn hóa có các quy tắc khác nhau liên quan đến sự phù hợp của cách nhìn chằm chằm vào người khác khi tương tác với họ. Nhưng, chúng ta hãy tự hỏi mình một câu hỏi: Liệu có bất kỳ khía cạnh nào về hành vi này có thể được mô tả là etic không? Câu trả lời cho câu hỏi này có thể nằm trong những nguyên nhân hay nguồn gốc của sự khác biệt văn hóa trong cách nhìn khi giao tiếp. Trong ví dụ mô tả ở đây, đối tác của bạn muốn thể hiện sự tôn kính hoặc lịch sự đối với bạn. Vì vậy, cô ấy thể hiện hành vi nhìn theo đúng chuẩn mực mà nền văn hóa của cô ấy cho là phù hợp với những gì tỏ ra kính trọng và lịch sự. Nếu bạn là một người Mỹ, thì nền văn hóa của bạn lại ấn định một mô thức ánh mắt nhìn khác, thậm chí với cùng mong muốn bày tỏ sự kính trọng và lịch sự. Nền văn hóa của bạn ấn định rằng bạn phải nhìn trực diện vào đối tác của bạn khi nói chuyện và thể hiện sự quan tâm và tôn trọng bằng cách nhìn trực diện vào họ khi họ nói. Tuy nhiên đó chỉ là biểu hiện hành vi bên ngoài khác nhau giữa các đại diện của hai nền văn hóa; lý do cơ bản là giống hệt nhau. Vì vậy, trong khi các hành vi bên ngoài mà chúng ta có thể quan sát một cách chính xác có thể được gọi là emic, thì các thuộc tính bên trong làm cơ sở cho các hành vi đó lại có thể thực sự là etic. Bằng cách này mà etics và emics có thể cùng tồn tại trong mối quan hệ với các hành vi của chúng ta. Hiểu biết của chúng ta về các nền văn hóa và các ảnh hưởng văn hóa đối với hành vi sẽ được cải thiện đáng kể nếu chúng ta tránh các khuynh hướng phân chia các hành vi này thành thể loại này hoặc thể loại khác, thay vào đó, hãy tìm kiếm các cách thức mà bất kỳ hành vi nào cũng thực sự đại diện cho cả hai loại tình trạng căng thẳng. [Matsumoto 1996: 21-2]

9. Văn hóa được học hỏi mà có

Văn hóa được học hỏi từ những người mà ta tương tác khi ta được xã hội hóa. Việc quan sát người lớn phản ứng và nói chuyện với trẻ em là một cách thức tuyệt vời để thấy được cách trao truyền biểu tượng văn hóa thực sự của con người. Hai đứa trẻ được sinh ra vào cùng một lúc ở hai nơi khác nhau của trái đất có thể được dạy dỗ để đáp ứng với các kích thích vật lý và xã hội theo những cách thức rất khác nhau. Ví dụ, một số đứa trẻ được dạy nhoẻn cười với người lạ, trong khi những trẻ em khác lại được dạy chỉ cười trong những trường hợp rất cụ thể. Tại Hoa Kỳ, hầu hết trẻ em được yêu cầu từ một độ tuổi rất sớm để đưa ra các quyết định về những gì chúng muốn làm và những gì chúng thích; trong nhiều nền văn hóa khác, cha mẹ sẽ không bao giờ hỏi một đứa trẻ những gì nó muốn làm mà chỉ đơn giản bảo nó phải làm gì mà thôi. Văn hóa cũng được giảng dạy bởi những lời giải thích mọi người nhận cho thiên nhiên và con người các sự kiện xung quanh họ. Mọi người từ các nền văn hóa khác nhau sẽ hoàn thiện phần còn bỏ trống bằng những cách thức tương phản với nhau. Những người mà trẻ em giao tiếp sẽ khen ngợi và khuyến khích các loại hành vi cụ thể (như khóc hay không khóc, im lặng hoặc nói nhiều). Chắc chắn có những khác biệt về những gì mà một đứa trẻ học được từ gia đình so với gia đình khác trong bất kỳ nền văn hóa nào. Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta không phải là về những khác biệt này, mà là về các tương đồng trong hầu hết hoặc là tất cả các gia đình, tạo thành cơ sở cho một nền văn hóa. Vì mối quan tâm cụ thể của chúng ta là quan hệ giữa văn hóa và giao tiếp liên cá nhân, nên chúng ta tập trung vào cách thức mà một nền văn hóa cung cấp cho các thành viên của mình một tập hợp các giải thích mà họ sử dụng như là các bộ lọc để tạo ra ý nghĩa của thông điệp và kinh nghiệm. [Lustig và Koester 1999: 31-2] Quan niệm cho rằng văn hoá có được thông qua quá trình học tập có một số hàm ý quan trọng đối với hành vi quan hệ quốc tế. Trước hết, một nhận thức như vậy có thể dẫn đến khoan dung hơn với những khác biệt văn hóa, một điều kiện tiên quyết cho các giao tiếp liên văn hóa một cách hiệu quả trong bối cảnh quan hệ quốc tế. Thứ hai, bản chất học hỏi được của văn hóa được sử dụng như một lời nhắc nhở rằng chúng ta đã làm chủ được nền văn hóa của mình thông qua quá trình học tập, cũng có thể (mặc dù khó khăn hơn) học hỏi để thực hành trong các nền văn hóa khác. Vì vậy, việc phát triển kỹ năng liên văn hóa cho các doanh nhân phương Tây có thể được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo hiệu quả. Và cuối cùng, bản chất của văn hóa học dẫn chúng ta đến một kết luận hiển nhiên là lực lượng lao động nước ngoài, mặc dù có lẽ thiếu các kỹ năng liên quan đến các công việc nhất định trong thời điểm hiện tại, vẫn hoàn toàn có khả năng học hỏi những kỹ năng đó trong tương lai, miễn là họ tiếp xúc với các chương trình đào tạo phù hợp về phương diện văn hóa. [Ferraro 1998: 19]

10. Văn hóa tùy thuộc vào quá trình biến đổi dần dần

Bất kỳ cách diễn giải nhân học nào về văn hóa của bất kỳ xã hội nào cũng đều là một kiểu quan niệm tức thời về một thời gian cụ thể. Vài năm sau khi hoàn thành việc nghiên cứu một văn hóa, nhà dân tộc học nên quay trở lại và người đó sẽ không còn thấy chính xác tình huống tương tự, vì không có nền văn hóa nào vẫn hoàn toàn tĩnh tại năm này qua năm khác. Các nhà nhân học đầu thế kỷ XX - đặc biệt là những người theo trường phái cấu trúc/chức năng thường có xu hướng giải nhấn động lực học văn hóa bằng cách gợi ý rằng một số xã hội đang ở trong trạng thái cân bằng ở điểm zero trong đó các động lực thay đổi đã bị phủ nhận bởi những động lực của chủ nghĩa bảo thủ văn hóa. Mặc dù quy mô nhỏ, công nghệ đơn giản, nhưng các xã hội tiền văn tự vẫn có xu hướng bảo thủ hơn (và, do đó, biến đổi không nhanh) so với các xã hội hiện đại, công nghiệp hoá, và có tính phức tạp cao, giờ đây người ta thường chấp nhận rằng, ở một mức độ nhất định, sự biến đổi là một đặc điểm không đổi của tất cả các nền văn hóa. Các nhà nghiên cứu biển đổi văn hóa công nhận rằng sự đổi mới văn hoá (có nghĩa là, việc đưa vào những cách tư duy, chuẩn mực, hoặc các hạng mục vật chất mới) diễn ra như là kết quả của cả nội lực lẫn ngoại lực. Cơ chế của sự biến đổi vận hành trong một nền văn hóa nhất định được gọi là phát hiện và sáng tạo. Mặc dù phát hiện và sáng tạo là quan trọng, nhưng hầu hết các đổi mới được đưa vào một nền văn hóa đều là kết quả của việc vay mượn từ các nền văn hóa khác. Quá trình này được gọi là truyền bá văn hóa, sự lan truyền của các hạng mục văn hóa từ một nền văn hóa này đến một nền văn hóa khác. Tầm quan trọng của việc vay mượn văn hóa có thể được nhận thức tốt hơn nếu được xem xét trong khuôn khổ của các nỗ lực kinh tế. Nghĩa là, việc vay mượn phát minh, sáng tạo của người khác sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc khám phá hoặc phát minh thêm một lần nữa. Trong thực tế, các nhà nhân học đều đồng ý rằng đến 90 phần trăm của tất cả mọi thứ, các ý tưởng và các mô thức hành vi tìm thấy trong bất kỳ nền văn hóa nào cũng đều có nguồn gốc ở một nơi nào đó khác. Các cá nhân trong mọi văn hóa, giới hạn bởi bối cảnh và thời gian, đều giảm bớt nỗ lực khi họ có được các ý tưởng mới bằng phương thức vay mượn. Tuyên bố này cũng đúng đối với nền văn hóa của chúng ta cũng như các nền văn hóa khác, vì thực tế là Bắc Mỹ thường có xu hướng bỏ qua vấn đề này. Vì hầu hết biến đổi văn hóa đều là kết quả của truyền bá, nên nó xứng đáng được xem xét kỹ hơn. Khi biết rằng truyền bá văn hóa xảy ra trong những tình huống rất khác nhau, nên chúng ta có thể xác định những qui tắc nhất định cho phép đưa ra một số phán đoán khái quát chính xác cho tất cả các nền văn hóa. Trước hết, truyền bá văn hóa là một quá trình chọn lọc. Bất cứ khi nào hai nền văn hóa bắt đầu tiếp xúc, thì mỗi nền văn hóa đều không chấp nhận một cách bừa bãi tất cả mọi thứ từ nền văn hóa kia. Nếu xảy ra tình trạng như vậy, thì các khác biệt lớn về văn hóa tồn tại cho đến ngày nay có lẽ đã biến mất từ lâu rồi. Thay vào đó, các hạng mục được vay mượn từ nền văn hóa khác chỉ xảy ra khi chúng chứng tỏ là hữu ích và / hoặc tương thích. ... Nói cách khác, một sự đổi mới có khả năng được truyền bá vào một nền văn hóa tiếp nhận khi: i) nó được xem là vượt trội so với những gì hiện tồn tại; ii) nó phù hợp với các mô thức văn hóa hiện có; iii) nó dễ hiểu; iv) có thể được kiểm tra trên cơ sở thực nghiệm; và v) đổi mới đó đem lại lợi ích có thể thấy rõ đối với số lượng dân cư tương đối. Năm biến số trên cần được các nhà chiến lược kinh doanh quốc tế xem xét khi có ý định giới thiệu các khái niệm quản lý và tiếp thi mới vào một nền văn hóa bên ngoài. Thứ hai, vay mượn văn hóa là một quá trình hai chiều. Các nhà nghiên cứu sớm về biến đổi văn hóa tin rằng sự tiếp xúc giữa các xã hội "nguyên thủy" và các xã hội "văn minh" làm cho các “xã hội nguyên thủy” chấp nhận các đặc trưng văn hóa của các “xã hội văn minh”. Lập trường này được dựa trên giả định là các xã hội nguyên thủy "thấp kém" không có gì để cung cấp cho các xã hội văn minh "cao đẳng". Tuy nhiên ngày nay, các nhà nhân học đều từ chối một lập trường như vậy, vì người ta đã phát hiện đi phát hiện lại rằng các đặc trưng văn hóa được truyền bá theo cả hai hướng. Sự tiếp xúc giữa người châu Âu với người Da đỏ châu Mỹ là một trường hợp điển hình. Người Mỹ bản địa, chắc chắn, đã tiếp nhận vô số thứ từ người châu Âu, nhưng việc truyền bá theo hướng ngược lại cũng rất đáng kể. Ví dụ, người ta đã ước tính (Driver 1961: 584) rằng các loại cây trồng chiếm gần một nửa nguồn cung cấp lương thực của thế giới là do người Da đỏ châu Mỹ thuần hóa. Chúng bao gồm ngô, đậu, bí, khoai lang, và cái gọi là "khoai tây Ailen"... v.v. Thứ ba, rất hiếm khi các mục vay mượn được chuyển vào nền văn hóa tiếp nhận trong dạng thức nguyên gốc của chúng. Thay vào đó, những ý tưởng mới, các hiện vật, hoặc kỹ thuật thường được tái diễn giải và làm lại sao cho có thể được tích hợp một cách hiệu quả hơn vào cấu hình tổng thể của nền văn hóa tiếp nhận. Lowell Holmes đã cung cấp một ví dụ soi sáng cách thức của một sự đổi mới đặc biệt từ Ý (pizza) đã được biến đổi sau khi nó sát nhập vào nền văn hóa Hoa Kỳ. "Ban đầu, chiếc bánh Ý này đã được làm bằng phô mai mozzarella hoặc scamorza, cà chua, gia vị rất xúc xích có nhiều gia vị, rau thơm hoa môi [Origanum vulgare], và một lớp vỏ làm bằng bột mì, nước, dầu ô liu và men bia. Mặc dù loại bánh pizza vẫn còn tìm thấy trong hầu hết các thành phố miền Đông, cũng như trong các thành phố miền Trung Tây, trong nhiều trường hợp, món ăn này đã được giải thích là để đáp ứng sở thích hương vị miền Trung Tây đối với loại thực phẩm nhạt nhẽo. Bánh pizza Ý đích thực trong các tiểu bang như Kansas, Missouri, Iowa, Nebraska, hoặc Dakota thường được xem là quá cay; do đó, có thể mua tại các nhà hàng hoặc tại các siêu thị loại bánh pizza đầu bảng với loại pho mát theo quy trình Mỹ, không hề có vị rau môi, và thay vì xúc xích gia vị, hamburger hay thậm chí cá ngừ cắt tròn theo phiên bản Mỹ hóa. Trong nhiều công thức nấu ăn gia đình, lớp vỏ được làm bằng bánh quy hỗn hợp. Mặc dù những người Ý sẽ khó nhận ra nó, nhưng nó vẫn còn mang tên pizza và đã trở nên cự kỳ phổ biến "(1971: 361-2). ... Thứ tư, một số đặc điểm văn hóa dễ dàng truyền bá hơn so với các đặc điểm khác. Nhìn chung các đổi mới công nghệ có nhiều khả năng được vay mượn hơn là các mô thức xã hội, hoặc các hệ thống tín ngưỡng, phần lớn là vì tính hữu dụng của một đặc điểm công nghệ đặc biệt có thể được công nhận một cách nhanh chóng. Ví dụ, một người đi bộ năm dặm mỗi ngày để làm việc không cần phải thuyết phục nhiều cũng nhận ra rằng một chiếc ô tô có thể đưa anh ta đến chỗ làm việc nhanh hơn và cần ít sức lực hơn. Tuy nhiên thực tế lại rất khó thuyết phục một người Hồi giáo trở thành một người Ấn giáo hay một doanh nhân Mỹ thuộc tầng lớp trung lưu trở thành một người theo chủ nghĩa xã hội. Điều quan trọng đối với một doanh nhân quốc tế để hiểu rằng ở một mức độ nào đó, tất cả các nền văn hóa đều liên tục trải qua sự biến đổi. Ba thành phần cơ bản của văn hóa (sự vật, ý tưởng và các mô thức hành vi) có thể trải qua các bổ sung, xóa bỏ, hoặc biến đổi. Một số thành phần mất đi, những thành phần mới được chấp nhận, và những thành phần hiện tồn có thể biến đổi theo một cách thức nào đó có thể quan sát được. Mặc dù tốc độ của sự biến đổi văn hóa của mỗi xã hội đều khác nhau, nhưng khi nhìn nhận các nền văn hóa theo thời gian, thì không có gì là vĩnh hằng ngoài sự biến đổi. Cái nhìn sâu sắc và trực tiếp mang tính nhân học này cần nhắc nhở các doanh nhân quốc tế biết rằng i) bất kỳ môi trường văn hóa nào ngày nay cũng đều không chính xác giống hệt như nó đã tồn tại năm ngoái hoặc sẽ trở thành vào năm sau. Vì vậy môi trường văn hóa cần được giám sát liên tục; ii) mặc dù không có sự phù hợp giữa nền văn hóa của một công ty Mỹ hoạt động ở nước ngoài và lực lượng lao động ở nước ngoài, nhưng thực ra thì văn hóa có thể làm thay đổi và cung cấp một biện pháp lạc quan nhất định là các khoảng cách văn hoá cuối cùng có thể được lấp đầy. Hơn nữa, quan niệm về truyền bá văn hóa có những hàm ý quan trọng cho hoạt động kinh doanh quốc tế. Dù ta đang cố gắng tạo ra thị trường mới ở nước ngoài hoặc làm cho lực lượng lao động địa phương thấm nhuần thái độ và hành vi mới thì buộc phải hiểu rằng truyền bá văn hóa là mang tính chọn lọc. Việc biết với một mức độ nhất định về tính dự đoán trước mà các sự vật, ý tưởng, và hành vi có khả năng được một nền văn hóa cụ thể chấp nhận, thì các biến quyết định tác động ảnh hưởng đến việc truyền bá như lợi thế tương đối, tính tương thích, và khả năng có thể quan sát cần phải được nhận thức rõ. Việc hiểu rõ rằng truyền bá văn hóa thường liên quan đến một số biến đổi hạng mục văn hóa chính là một ý tưởng quan trọng đối với những ai quan tâm đến việc tạo ra thị trường sản phẩm mới trong các nền văn hóa khác. Để minh họa, trước khi một loại bột giặt - thường được đóng gói trong một bao bì màu xanh lá cây ở Hoa Kỳ - sẽ được chấp nhận tại một số địa phương Tây Phi, thì cần phải thay đổi màu sắc của bao bì, bởi vì tại một số nền văn hóa Tây Phi, màu xanh lá cây làm người ta liên tưởng đến cái chết. Ngoài ra, ý tưởng cho rằng một số thành phần nhất định của một văn hóa dễ dàng được chấp nhận hơn so với những thành phần khác trong những môi trường văn hóa khác nhau chí ít là nên cung cấp một số hướng dẫn chung cho việc đánh giá những loại thay đổi nào trong nền văn hóa địa phương có nhiều khả năng xảy ra. Bằng cách đánh giá những loại sự vật, ý tưởng và hành vi nào đã được tích hợp vào một nền văn hóa trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chiến lược cần hiểu rõ hơn về thực trạng khó khăn hay dễ dàng liên quan đến những biến đổi khởi đầu trong thói quen của người tiêu dùng hoặc hành vi nơi làm việc. Ferraro 1998: 25-9

11. Tất cả các bộ phận khác nhau của một nền văn hóa, ở một mức độ nào đó, đều có quan hệ tương liên với nhau

Các nền văn hóa cần được quan niệm như là các tổng thể tích hợp - có nghĩa là, các nền văn hóa đều là các hệ thống logic và mạch lạc, mà các bộ phận của nó ở một mức độ nhất định đều tương liên với nhau. ... Khi chúng ta nói rằng một nền văn hóa được tích hợp có nghĩa là chúng ta đang nói rằng các thành phần của nó không đơn giản là một sự phân loại ngẫu nhiên về các tập tục. Hơn thế, đó chính là một hệ thống có tổ chức, trong đó các thành phần cụ thể đều tương liên với các thành phần khác. Nếu có thể xem văn hóa như các hệ thống tích hợp, thì chúng ta cũng có thể bắt đầu nhận thấy các đặc điểm văn hóa cụ thể phù hợp với tổng thể tích hợp ra sao, và kết quả là làm thế nào mà chúng có xu hướng tạo ra ý nghĩa trong bối cảnh đó. Và tất nhiên, được trang bị với một sự hiểu biết như vậy, các doanh nhân quốc tế có thể có lập trường tốt hơn để đối phó với những tập tục "kỳ lạ" mà họ gặp phải trong vũ đài kinh doanh quốc tế. ... Nếu, trong thực tế, các nền văn hóa là các hệ thống mạch lạc, với các bộ phận cấu thành của chúng quan hệ tương liên với nhau, thì logic chắc chắn phải là bất cứ sự thay đổi nào trong một phần của hệ thống cũng đều có khả năng tạo ra sự thay đổi tương ứng trong các bộ phận khác của hệ thống. Việc giới thiệu một đổi mới công nghệ duy nhất có thể đặt ra một loạt các thay đổi liên quan. Nói cách khác, văn hóa thay đổi làm cho nền văn hóa khác cũng thay đổi theo. Để minh họa, chúng ta cần phải nhìn vào những ảnh hưởng sâu rộng đối với nền văn hóa Mỹ do một đổi mới công nghệ, đã trở thành phổ biến trong những năm 1950 - đó là truyền hình. Việc bổ sung công nghệ duy nhất này vào vốn văn hóa vật chất của chúng ta đã gây ra hậu quả sâu sắc về các khía cạnh phi vật chất cho nền văn hóa đó, bao gồm chính trị, giáo dục, và các hệ thống tôn giáo của chúng ta, mà ở đây mới chỉ nói đến ba lĩnh vực. Ví dụ, chiến dịch vận động chính trị cho chức tổng thống năm 1948 và trước đó đã được thực hiện chủ yếu từ đoạn cuối cùng của một toa xe đường sắt trên cái gọi là tuyến lữ hành "ga xép". Đến năm 1960, năm của những cuộc tranh cử chức tổng thống đầu tiên trên truyền hình, truyền hình đã mang lại những ý tưởng, lập trường, phong cách nói chuyện, và những dáng vẻ thể chất của các ứng viên trực tiếp vào phòng khách của đa số cử tri. Ngày nay các ứng viên chính trị, vì sức mạnh của truyền hình, cần phải chú ý đến trang điểm, quần áo, và các cử chỉ phi ngôn ngữ vì tất cả đều là các vấn đề trọng yếu của chiến dịch tranh cử. Trong giáo dục chính thức, một trong những hậu quả của việc sử dụng rộng rãi của truyền hình là để hạ thấp độ tuổi mà trẻ em phát triển "tính sẵn sàng đọc" với tư cách là một kết quả trực tiếp của các chương trình như "Phố Vừng". ... Truyền hình đã được nhiều nhà bình luận xã hội mô tả vừa là một phước lành lại vừa là một lời nguyền rủa. Nhưng tuy nhiên, chúng ta có thể cảm nhận về các ưu điểm và nhược điểm của nó, và khó có thể phủ nhận rằng nó đã góp phần thay đổi sâu sắc trong nhiều bộ phận khác của hệ thống văn hóa Hoa Kỳ. Và lý do của những thay đổi này là ở chỗ các nền văn hóa đều có xu hướng trở thành những hệ thống tích hợp với một số bộ phận kết nối với nhau, đến mức là bất cứ sự thay đổi nào trong một phần của nền văn hóa đó cũng đều có khả năng gây ra những thay đổi trong các bộ phận khác. [Ferraro 1998: 32-5]

12. Văn hóa là một khái niệm mô tả, không phải là một khái niệm đánh giá

Đôi khi mọi người nói về văn hóa "cao" và văn hóa "thấp". Các định nghĩa liên quan đến "văn hóa cao" như sau: '[Văn hóa là] i) một trạng thái phát triển cao trong nghệ thuật & suy tư hiện tồn trong một xã hội và được đại diện ở các cấp độ khác nhau trong các thành viên của nó; ii) việc phát triển và cải thiện của tư duy hoặc cơ thể bởi giáo dục, hoặc đào tạo. ' [Longman Dictionary of Contemporary English] Giải thích này về văn hóa thường được liên kết với các thuật ngữ và các khái niệm như là văn minh hóa, có học thức, được tinh lọc, có văn hóa, và được kết hợp với các kết quả của sự tinh lọc như vậy - một nền nghệ thuật, văn học, âm nhạc, …v.v, của một xã hội. Tuy nhiên, quan niệm của chúng ta về văn hóa không phải là một cái gì đó độc nhất đối với các thành viên nhất định; đúng hơn nó liên quan đến toàn bộ xã hội. Hơn nữa, nó không chuyên chở giá trị. Không phải là một số nền văn hóa thì tiên tiến và một số thì lạc hậu, một số văn minh hơn và lịch sự hơn trong khi những nền văn hóa khác thì thô lậu. Thay vào đó, chúng là tương tự hoặc khác nhau mà thôi. Những quan niệm không đầy đủ về văn hóa [Có] ít nhất sáu ý tưởng liên quan đến nhau về văn hóa mà chúng ta gọi là không đầy đủ. Những ý tưởng này thường được thấy trong các bài viết và thực hành của các cá nhân, bao gồm cả những người trong việc giải quyết xung đột, bằng cách vay mượn một cái nhìn nhân học đã lạc hậu về văn hóa, tìm cách sử dụng một cách tiếp cận văn hóa trong các công trình của họ.

1. Văn hóa là đồng nhất. Ý tưởng này giả định rằng một nền văn hóa (địa phương) thì không có những nghịch lý và mâu thuẫn nội tại chẳng hạn như: i) nó cung cấp các “chỉ dẫn” hành vi rõ ràng và không mơ hồ cho các cá nhân - một chương trình về cách thức hành động - hoặc ii) một khi đã nắm bắt hoặc học hỏi được bởi một người ngoài cuộc, nó có thể được đặc trưng bằng những cách thức tương đối minh bạch ("người Dobuans mắc chứng hoang tưởng "). Một quan điểm đồng nhất về văn hóa làm cho các ý tưởng không đầy đủ thứ hai dễ dàng duy trì hơn, cụ thể là:

2. Văn hóa là một sự vật. Việc vật chất hoá văn hóa - coi văn hóa như là một sự vật - dẫn đến một quan niệm cho rằng "nó" là một sự vật có thể hành động, gần như độc lập của các tác nhân con người. Không có ẩn ý về tác nhân cá thể ở đây. Một ví dụ đương đại rõ rang về loại suy tư này là lập luận trong Cuộc đụng độ của các nền văn minh của Samuel Huntington. Nó rất dễ dàng để rơi vào cái bẫy ngữ nghĩa của sự đồ vật hoá. Ta hãy đọc nhận xét trước đó trong bài tiểu luận này về sức mạnh cấu thành của văn hóa để xây dựng một định nghĩa của chính nó! Thuật ngữ này được sử dụng như là một cách ghi tốc ký, như chúng ta sẽ thấy, đề cập đến hành mớ các quá trình tri giác và nhận thức phức tạp, và nó là một loạt bước đi ngắn (nhận thức) từ cách ghi tốc ký đến sự hoán dụ đến đồ vật hoá. Nhưng chúng ta nên cảnh giác, đặc biệt là bởi việc đồ vật hóa văn hóa rất dễ dàng bỏ qua tính đa dạng nội văn hóa, bảo lãnh cho quan niệm không đầy đủ của ý tưởng thứ ba:

3. Văn hóa được phân bố đồng đều giữa các thành viên của một nhóm. Ý tưởng này quy tính đồng dạng về nhận thức, tình cảm, và hành vi cho tất cả các thành viên của nhóm. Sự thay đổi nội văn hóa, dù ở cấp độ cá nhân hay nhóm, đều bị bỏ qua hoặc bị bác bỏ, xem như là "lệch lạc". Gắn kết với quan niệm này là quan niệm sai lầm khác cho rằng:

 4. Cá nhân sở hữu không phải một văn hóa duy nhất. Cá nhân đó đơn giản là một người Somali, một người Mexico, hoặc một người Mỹ. Vì vậy văn hóa đồng nghĩa với tính đồng nhất [bản sắc] của nhóm. Gốc rễ của quan niệm sai lầm này xuất phát từ đặc quyền của cái mà chúng ta có thể gọi là văn hóa bộ lạc, văn hóa tộc người, hoặc văn hóa dân tộc, so với các nền văn hóa được kết nối - như chúng ta sẽ thấy - với các loại nhóm, các cấu trúc, hoặc các thể chế khác nhau. Một phần điều này xuất phát từ môi trường xã hội mà trong đó các nhà nhân học trước hết phát triển các ý tưởng về văn hóa: các nhóm bộ lạc hoặc tộc người có quy mô nhỏ và tương đối không khác biệt về phương diện xã hội. Sau đó nó được pha trộn bởi các nhà khoa học chính trị - những người đã giương cao khái niệm văn hóa (như "văn hóa chính trị") và ban đặc quyền cho nhà nước-dân tộc như là một đơn vị phân tích của họ - vì thế mà ban đặc quyền cho ý tưởng "tính cách dân tộc". Trong thực tế, như chúng ta sẽ thảo luận, đối với bất kỳ cá nhân nào, thì văn hóa luôn luôn xuất hiện số nhiều. Một người sở hữu và kiểm soát một số văn hóa theo cùng một cách, như các nhà ngôn ngữ học xã hội cho chúng ta biết rằng ngay cả cái gọi là người nói độc ngữ cũng kiểm soát các "phạm vi từ vựng" khác nhau của cùng một ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

5. Văn hóa là phong tục. Ý tưởng này cho rằng văn hóa không khác biệt về cấu trúc, nên những gì ta thấy cũng chính là những gì ta có được. Và phần lớn những gì ta nhìn thấy (đặc biệt là trong một nền văn hóa khác với nền văn hóa của ta), tất nhiên có ngây thơ, chính là phong tục. Văn hóa ở đây là gần như đồng nghĩa với "truyền thống", hoặc những cách hành xử theo phong tục. Những điều quan trọng cần biết, nếu ta là người ngoài cuộc, là những quy tắc theo đúng phong tục để xử sự đúng. Trong trường hợp này văn hóa quy giản thành một loại nghi thức ở cấp độ bề mặt. Biến đổi văn hóa, như Peter Black đã từng nói, chỉ đơn thuần là một vấn đề "nghi thức khác biệt". Một lần nữa, tác tố cá nhân bị xem nhẹ. Theo quan điểm này không có ý thức đấu tranh, có lẽ ngoại trừ trường hợp ý thức đấu tranh với những kẻ lầm lạc (xem mục 3 ở trên), những kẻ không thể hoặc sẽ không tuân theo truyền thống và phong tục: trên hết, việc san phẳng sự khác biệt và việc giảm thiểu tranh đấu chính xác là những gì mà các quy tắc và nghi thức đại diện.

6. Văn hóa là vô tận. Liên quan chặt chẽ với quan điểm văn hóa-là-phong tục (thực ra, liên quan đến tất cả các quan điểm trên), ý tưởng cho rằng văn hóa là vô tận quy một phẩm chất không thay đổi cho văn hóa, đặc biệt là cho những cái gọi là truyền thống. Ở đây, chúng ta nói đến, chẳng hạn như, về "tư duy Ả Rập" như thể là một yếu tố nhận thức đơn nhất đã được truyền lại cho chúng ta từ Mecca của Muhammed. Sáu ý tưởng không đầy đủ về văn hóa là có liên quan và củng cố lẫn nhau. Việc sử dụng các ý tưởng đó, như chúng ta đã thảo luận, sẽ làm giảm đáng kể tính tiện ích của khái niệm văn hóa với tư cách là một công cụ phân tích để hiểu hoạt động xã hội, mà trong trường hợp này, là xung đột và giải quyết xung đột. [Avruch 1998: 14-16]

Các cấp độ phân tích và các ngụy biện cần tránh

Nhiều vấn đề nghiên cứu được thảo luận ở đây sẽ so sánh các đặc trưng của các nền văn hóa dân tộc cụ thể với hành vi trung bình của một mẫu nhỏ các đối tượng được rút ra từ bên trong các nền văn hóa đó. Nói cách khác, chúng ta có thể tìm thấy chính mình bằng cách khẳng định rằng chủ nghĩa tập thể của, chẳng hạn như, văn hóa quốc gia Indonesia làm cho một nhóm nhà nghiên cứu Indonesia gán ghép vào một bảng hỏi về các nguyên do cho sự thành công hay thất bại trong công việc của họ. Khi thể hiện theo cách này, rất dễ thấy rằng ngụ ý của quan hệ nhân quả là quá mạnh nên khó có thể coi là hợp lý. Theo một ý nghĩa chung, chúng ta có thể mong đợi nền văn hóa quốc gia Indonesia phải được thể hiện trong hệ thống giáo dục của nước đó, trong loại sinh viên được tuyển dụng, trong loại giảng dạy, và loại đánh giá. Nhưng nếu chúng ta muốn thực hiện một phép kiểm tra chắc chắn hơn về các liên kết nhân quả với hành vi cá nhân, tốt hơn hết, chúng ta nên biết nhóm các nhà nghiên cứu Indonesia cụ thể này có tính tập thể chủ nghĩa đến mức nào. Nói cách khác, chúng ta nên sử dụng những cách đặc trưng hóa của toàn bộ các nền văn hóa (ví dụ như các giá trị tập thể chủ nghĩa) để giải thích các thuộc tính cụ thể của nền văn hóa đó như một toàn thể (ví dụ như loại hệ thống chính trị được phát hiện ở đó, tỷ lệ bệnh tật, chi tiêu quân sự,…vv). Nhưng chúng ta nên sử dụng các đặc trưng hóa về các giá trị của các cá nhân, hoặc các nhóm cá nhân cụ thể nếu chúng ta muốn dự đoán các cá nhân cụ thể ấy sẽ hành xử như thế nào. Các phương pháp đo lường cấp độ văn hóa có thể được sử dụng tốt nhất để giải thích sự biến đổi về cấp độ văn hóa; các phương pháp đo lường cấp độ cá nhân tốt nhất có thể được sử dụng để giải thích các biến đổi ở cấp độ cá nhân. Vì hầu hết các nghiên cứu tâm lý xã hội được tiến hành với các cá nhân, nên nhiều nhà nghiên cứu có nhu cầu cấp bách trong việc sử dụng các biện pháp đo lường ở cấp độ cá nhân như vậy, hơn là dựa vào các đặc trưng hóa cấp độ-văn hóa chẳng hạn như những đặc trưng hóa được Hofstede cung cấp (Bond, 1996b). ... Sự nhầm lẫn về các cấp độ phân tích có lẽ là vấn đề lớn nhất duy nhất trong sự phát triển hiện tại của môn tâm lý học liên văn hóa. Khó khăn là nhiều nhà nghiên cứu trở thành nạn nhân với những gì Hofstede (1980) và những người khác đề cập đến như những sai lầm sinh thái. Giả sử vấn đề rõ rang là các quốc gia chi tiêu phần lớn tiền vào y tế nên dân cư khỏe mạnh nhất. Liệu có phải là các cá nhân chi tiêu phần lớn số tiền cho thuốc men có phải là những người khỏe mạnh nhất không? Hầu hết có lẽ không; thực sự ra thì có thể ở cấp độ cá nhân mối quan hệ ló lẽ ngược lại: hầu hết những người đau ốm nhất sẽ chi tiêu nhiều nhất. Bây giờ ta hãy xem xét một ví dụ xuất phát trực tiếp từ các khái niệm mà chúng ta đã thảo luận. Các quốc gia mà giá trị của họ thiên về khoảng cách quyền lực thấp bao gồm hầu hết các quốc gia giàu có nhất thế giới. Liệu có phải là các cá nhân đối lập với hệ thống phân cấp có thể là người giàu có? Chắc chắn là không: nhiều doanh nhân thành công nhất đã đạt được thành công thông qua việc sử dụng quan điểm phân cấp mạnh về quản lý. Các ngoại lệ đối với mô thức này chẳng hạn như Steve Jobs tại tập đoàn Apple Computer ở Hoa Kỳ, Richard Branson ở Virgin thuộc Vương quốc Anh và Ricardo Semler ở Brazil có thể đạt được vị thế anh hùng-dân gian như là các trường hợp ngoại lệ đối với quy tắc đó, nhưng danh tiếng của họ lại không làm chúng ta lóa mắt với tần số thành công lớn hơn nhiều so với các nhân vật tán thành các giá trị ít bình quân chủ nghĩa hơn. ... Nếu chúng ta quan tâm đến việc giải thích các khác biệt giữa các nền văn hóa quốc gia, thì chúng ta phải xử lý với mỗi văn hóa như là một đơn vị duy nhất, và chỉ dựa trên các chỉ số đặc trưng cho mỗi quốc gia như một tổng thể, chẳng hạn như các thước đo phản ánh các giá trị trung bình, sự giàu có, sức khỏe, khí hậu hay nhân khẩu học. Điều đó cho thấy rằng chúng ta chỉ nghiên cứu thành công loại hình này nếu chúng ta có sẵn dữ liệu từ vài chục quốc gia, vì chúng ta đã thực hiện các nghiên cứu đã được thảo luận trước đó trong chương này. Nếu chúng ta đang quan tâm đến việc giải thích các tương đồng và khác biệt trong hành vi của các cá nhân, cho dù tất cả các cá nhân đó đều thuộc cùng một nhóm văn hóa hoặc lan truyền qua nhiều nhóm, thì cần phải tiến hành việc phân tích cấp độ cá nhân. Tuy nhiên, sẽ không thể tiến hành phân tích các các cấp độ cá nhân trong tất cả các nền văn hóa quốc gia, trừ khi người ta giải thích các khác biệt ở cấp độ văn hóa. Vì vậy, nếu chúng ta muốn nghiên cứu mối quan hệ giữa các giá trị của người làm công và tình trạng vắng mặt ở chỗ làm việc trong toàn bộ các nền văn hóa quốc gia, thì trước hết chúng ta có thể giải thích một thực tế là tình trạng nghỉ việc ở một số quốc gia là thường xuyên hơn so với một số quốc gia khác. Tình trạng nghỉ việc của mỗi cá nhân ở một số quốc gia thường xuyên hơn hơn so với những quốc gia khác. Vì vậy mỗi điểm số vắng mặt của mỗi cá nhân phải được thể hiện trong mối quan hệ với số điểm trung bình của quốc gia đó trước khi giả thuyết ấy có thể được kiểm tra. Ngoài ra, chúng ta có thể kiểm tra mối liên hệ giữa các giá trị và tình trạng vắng mặt ở chỗ làm trên toàn bộ mẫu, và sau đó kiểm tra xem liệu độ vững chắc của mối liên hệ này có thay đổi theo từng quốc gia hay không. Nếu mối quan hệ đó không thay đổi, thì nó sẽ cần phải xác định xem liệu điều đó có phải là do việc đo lường hay không (Bond, 1996). Triandis et al. (1985) cho rằng để tránh nhầm lẫn giữa các phân tích được tiến hành ở cấp độ của các nền văn hóa và các phân tích dựa vào cấp độ cá nhân, chúng ta nên sử dụng những cặp khái niệm khác nhau nhưng có liên quan với nhau. Đề xuất của nhóm tác giả này là chúng ta sử dụng thuật ngữ 'vị tha - allocentric' để mô tả một thành viên văn hóa ủng hộ các giá trị tập thể, nhưng vấn đề tạo ra sự phân biệt là ở chỗ cũng sẽ có một thiểu số người như vậy thuộc các nền văn hóa theo chủ nghĩa cá nhân. Tương tự như vậy nhóm tác giả Triandis đề nghị sử dụng thuật ngữ 'vị kỷ - idiocentric' để mô tả một thành viên văn hóa ủng hộ các giá trị cá nhân chủ nghĩa. Đề nghị này đem lại một thuật ngữ chính xác, nhưng các thuật ngữ ở cấp độ thích hợp lại chưa được các nhà nghiên cứu khác chấp nhận. [Smith và Bond 1998: 60-2]

Văn hoá và thuật ngữ liên quan

Văn hóa và Dân tộc

Trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta, mọi người thường xử lý vấn đề văn hoá và dân tộc như những thuật ngữ tương đương. Mặc dù một số quốc gia trong thực tế chủ yếu là nơi sinh sống của những cư dân thuộc một nhóm văn hóa duy nhất, nhưng hầu hết các quốc gia đều thuộc về các quốc gia đa văn hóa. Dân tộc là một thuật ngữ chính trị đề cập đến một chính phủ và một tập hợp các cơ chế chính thức và hợp pháp được thành lập để điều chỉnh hành vi chính trị của người dân. Các quy định này thường bao gồm các khía cạnh của tập hợp dân cư như cách thức lựa chọn các nhà lãnh đạo, bởi những quy tắc mà các nhà lãnh đạo phải chi phối, các bộ luật ngân hàng và tiền tệ, các phương tiện để thành lập các nhóm quân sự, và các quy tắc thực thi hệ thống pháp luật. Các chính sách đối ngoại, chẳng hạn, được quốc gia chứ không phải là một nền văn hóa xác định. Nền văn hóa, hoặc các nền văn hóa, tồn tại trong ranh giới của một nhà nước dân tộc chắc chắn ảnh hưởng đến các quy định mà một quốc gia phát triển, nhưng thuật ngữ văn hóa lại không đồng nghĩa với dân tộc. Dân tộc Nhật Bản thường được coi là đồng nhất vì vậy mà từ người Nhật thường được sử dụng vừa để chỉ dân tộc Nhật vừa để chỉ nền văn hóa Nhật. Mặc dù văn hóa Yamato của Nhật Bản là văn hóa chiếm ưu thế áp đảo trong dân tộc Nhật Bản, nhưng ở đó vẫn có các nền văn hóa khác. Các nhóm này bao gồm người Ainu, một nhóm người bản địa có nền văn hóa riêng, tôn giáo và ngôn ngữ riêng; chủ yếu là từ Okinawa, Hàn Quốc, và Trung Quốc; và những người nhập cư gần đây đang sinh sống ở đó. Hoa Kỳ là một ví dụ tuyệt vời về một dân tộc có nhiều nhóm văn hoá lớn sống trong ranh giới địa lý của nó; người Mỹ gốc Âu, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa, người Latinos, và các nền văn hóa châu Á khác nhau tất cả đều hiện diện tại Hoa Kỳ. Tất cả các thành viên của các nhóm văn hóa khác nhau đều là công dân của dân tộc Hoa Kỳ.

Văn hóa và Chủng tộc

Chủng tộc thường thuộc về các tương đồng dựa trên cơ sở di truyền hoặc dựa trên cơ sở sinh học của con người, có thể phân biệt, vừa duy nhất vừa có chức năng đánh dấu hoặc riêng biệt các nhóm người với nhau. Tuy nhiên, chủng tộc là một thuật ngữ ít mang tính sinh học so với tính chính trị hay xã hội. Mặc dù các thể loại chủng tộc không chính xác là một hệ thống phân loại, nhưng người ta thường đồng ý rằng chủng tộc là một thuật ngữ mang tính bao trùm toàn bộ hơn so với thuật ngữ văn hóa hoặc dân tộc. Không phải toàn bộ người da trắng, chẳng hạn, là một bộ phận của cùng một nền văn hóa hoặc dân tộc. Nhiều quốc gia tây Âu chủ yếu bao gồm những người thuộc chủng tộc da trắng. Tương tự như vậy, trong số những người da trắng cũng có những khác biệt nhất định về văn hóa. Hãy xem xét những khác biệt văn hóa giữa các quốc gia chủ yếu là người da trắng của Vương quốc Anh, Na Uy, và Đức để hiểu sự khác biệt giữa văn hóa và chủng tộc. Đôi khi chủng tộc và văn hóa dường như phải sát cánh bên nhau để tạo ra các khác biệt rõ ràng và quan trọng giữa các nhóm trong một xã hội lớn hơn; và đôi khi chủng tộc đóng một phần vai trò trong việc thành lập các nhóm văn hóa riêng biệt. Một ví dụ tuyệt vời về sự tương tác văn hóa và chủng tộc là trong lịch sử của người Mỹ gốc Phi tại Hoa Kỳ. Mặc dù chủng tộc có thể đã được sử dụng ngay từ đầu để tách người Mỹ gốc Phi khỏi người Mỹ da trắng, còn nền văn hóa Mỹ gốc Phi lại cung cấp một nguồn bản sắc mạnh mẽ và độc đáo cho các thành viên của chủng tộc da đen ở Hoa Kỳ. Giờ đây nhiều học giả thừa nhận rằng nền văn hóa Mỹ gốc Phi, với gốc rễ của nó trong các nền văn hóa châu Phi truyền thống, là riêng biệt và độc đáo và đã phát triển một tập hợp các mô thức văn hóa riêng. Mặc dù một người có gốc Nigeria và một người Mỹ gốc Phi đều từ cùng một chủng tộc, nhưng họ lại xuất phát từ hai nền văn hóa khác biệt. Tương tự như vậy, không tất cả những người Mỹ da đen đều là một phần của nền văn hóa người Mỹ gốc Phi, vì nhiều người có một quá trình xác lập bản sắc văn hóa chủ yếu với các nền văn hóa trong vùng biển Caribbean, Nam Mỹ, hoặc châu Phi. Tuy nhiên chủng tộc có thể tạo thành cơ sở cho các hoạt động truyền thông có hại có thể là một trở ngại chủ yếu cho quá trình giao tiếp liên văn hóa. Việc phân loại con người theo chủng tộc ở Hoa Kỳ, chẳng hạn, đã trở thành cơ sở cho sự phân biệt đối xử và đàn áp có hệ thống đối với người da màu.

Văn hóa Tộc người

Nhóm tộc người là một thuật ngữ khác thường được sử dụng thay thế cho thuật ngữ văn hóa. Tộc người thực sự là thuật ngữ được dùng để chỉ một loạt các nhóm người có thể có chung một ngôn ngữ, nguồn gốc lịch sử, tôn giáo, quá trình đồng nhất với một hệ thống văn hóa hoặc nhà nước dân tộc chung. Bản chất của mối quan hệ của một nhóm tộc người với nền văn hóa của nó sẽ thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào một số đặc trưng quan trọng khác. Ví dụ, nhiều người ở Hoa Kỳ vẫn duy trì lòng trung thành với nhóm tộc người của tổ tiên họ, những người di cư từ các quốc gia và các nền văn hóa khác. Rất nhiều người vẫn nói rằng họ là người Đức, Hy Lạp hay Armenian khi tính tộc người được chỉ định bởi cái nhãn gắn liền với tổ tiên và có lẽ với một số phong tục tập quán và thực hành có nguồn gốc từ nhóm tộc người được đặt tên. Thực tế, nhiều người trong số các cá nhân này không phải thành viên tiêu biểu của nền văn hóa Mỹ gốc Âu. Trong các trường hợp khác, việc đồng nhất tính tộc thuộc có thể hoàn toàn trùng khớp với nền văn hóa. Ở Nam Tư cũ, chẳng hạn, có ít nhất ba nhóm tộc người chủ yếu - Slovenia, Croatia, và Serbia - mỗi tộc người đều có ngôn ngữ riêng và nền văn hóa khác biệt, bị buộc phải gắn với một nhà nước dân tộc sau Chiến tranh Thế giới II. Vì các thành viên của một nhóm tộc người có thể là một phần của nhiều nền văn hóa và / hoặc quốc gia khác nhau. Ví dụ, người Do Thái có chung một quá trình đồng nhất hóa tộc người, mặc dù họ thuộc về những nền văn hóa rất khác nhau và là công dân của nhiều quốc gia [nation] khác nhau.

Văn hóa, tiểu văn hóa, và Đồng văn hóa

Tiểu văn hóa cũng là một thuật ngữ đôi khi được dùng để chỉ các nhóm dân tộc thiểu số và chủng tộc có chung một nhà nước-dân tộc phổ biến với các nền văn hóa khác và một số khía cạnh của nền văn hóa lớn hơn. Thông thường, ví dụ, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Ả Rập, người Mỹ gốc Á, người Mỹ bản địa, Latinos, các nhóm khác được gọi là các tiểu văn hóa tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên thuật ngữ này, có những nghĩa rộng mà chúng ta thấy có vấn đề, bởi vì nó cho thấy sự lệ thuộc vào nền văn hóa Mỹ gốc Âu lớn hơn. Tương tự như vậy, thuật ngữ đồng văn hóa, thỉnh thoảng cũng được sử dụng nhằm nỗ lực tránh hàm ý về một mối quan hệ thứ bậc giữa nền văn hóa Mỹ gốc Âu và các nhóm văn hóa quan trọng khác hình thành nên thể khảm văn hóa Hoa Kỳ. Đối với chúng ta thuật ngữ này cũng có vấn đề. Đồng văn hóa cho thấy có một tổng thể văn hóa duy nhất tại Hoa Kỳ, hoàn toàn làm nổi bật quá mức nhóm văn hóa Mỹ gốc Âu. Trong một thế giới ngày càng thu hẹp và phụ thuộc lẫn nhau, hầu hết các nền văn hóa phải cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hóa khác. Chúng tôi muốn xem người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Ả Rập, người Mỹ gốc Á, người Mỹ bản địa, người Latinos, và các nhóm người tương tự là các nền văn hóa thực sự của riêng họ. Do đó thuật ngữ đồng văn hóa làm cho chúng ta trở nên dư thừa. [Lustig và Koester 1999: 33-36]

Văn hóa và bản sắc

Văn hóa không đồng nhất với bản sắc. Các bản sắc bao gồm các câu trả lời của mọi người cho câu hỏi: Tôi thuộc về đâu? Chúng có cơ sở trên những hình ảnh và khuôn mẫu chung và những cảm xúc liên kết với các lớp quan niệm bên ngoài, chứ không phải với các giá trị. Các quần thể cư dân tranh đấu với nhau dựa trên cơ sở những bản sắc được “cảm nhận” khác nhau của họ có thể lại có chung các giá trị như nhau. Điển hình là các khu vực ngôn ngữ học ở Bỉ, các tôn giáo ở Bắc Ireland, và các nhóm bộ lạc ở châu Phi. Một bản sắc chung cần một cái chung khác: Ở nhà, tôi cảm thấy Hà Lan lại rất khác với những người châu Âu khác, chẳng hạn như người Bỉ và người Đức; ở châu Á hay Hoa Kỳ, tất cả chúng ta đều cảm thấy giống như người châu Âu. [Hofstede 2001: 10] Đối với một nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc, không có bất cứ một chiếc hộp nào về bất kỳ một hình thức chính phủ nào được gọi là "Cablinasian" [da trắng, da đen, da đỏ, da vàng]. Nhưng, tuy nhiên, ít nhất cũng có một người Mỹ có thể kiểm tra chỗ đó. Tên của anh ấy là Tiger Woods. Woods, tay gôn trở thành hiện tượng, trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng chính anh đã phát minh ra từ đó khi còn là một đứa trẻ để mô tả cấu chủng tộc của mình: da trắng, da đen, da đỏ và da vàng. Trong việc xác định tổ tiên của mình, Woods đã mở rộng cuộc thảo luận về chủng tộc ở người Mỹ, bằng cách làm nổi bật các sắc thái vô tận của màu xám bắc nhịp cầu nối liền sự phân chia giả tạo giữa "đen" và "trắng". Đây là một bước đi táo bạo. Nhiều chức năng chính phủ - điều tra dân số, hành động khẳng định, các chương trình giảm nghèo, và bản vẽ của các khu vực bàu cử Quốc hội - đều dựa trên số lượng của bốn nhóm chủng tộc được công nhận chính thức: Mỹ Da đỏ hoặc Alaska bản địa, châu Á Thái Bình Dương hoặc Islander, đen và trắng. Những người "Tây Ban Nha" có thể kiểm tra chiếc hộp để biết được xứ sở gốc của họ. ... Có lẽ các vấn đề quan trọng hơn, sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa - và lịch sử bất công chủng tộc của quốc gia - đã được đặt cơ sở trên những phân biệt chủng tộc đã hình thành từ lâu đời. Nhưng đó chính là cái cách mà Woods đã thất bại trong việc làm cho phù hợp với những ý tưởng đã được thiết lập từ lâu đời về chủng tộc làm cho anh trở nên thú vị đến như vậy. [Barton 1997; được trích dẫn bởi Lustig và Koester 1999: 139]

-------------

Nguồn: Spencer-Oatey, H. 2012. What is culture? A compilation of quotations. GlobalPAD Core Concepts.

Tác giả: Helen Spencer-Oatey, giáo sư đại học University of Warwick, Vương quốc Anh, giám đốc Trung tâm Ngôn ngữ học ứng dụng, đại học University of Warwick. Được đào tạo như một nhà tâm lý học và một nhà ngôn ngữ học, sau một thời gian ngắn làm việc tại doanh nghiệp, Helen ra nước ngoài để dạy tiếng Anh. Công việc giảng dạy đầu tiên của bà là ở Hồng Kông, và đó là nơi lần đầu tiên Helen gặp phải một số vấn đề ngôn ngữ có thể được sử dụng trong các nền văn hóa khác nhau. Càng ngày Helen càng quan tâm đến lĩnh vực này, và một vài năm sau đó, bà đến làm việc tại Đại học Giao thông Thượng Hải và dạy một khóa học về ngôn ngữ và văn hóa. Helen bắt đầu thu thập các kinh nghiệm ở Trung Quốc và đã viết cuốn sách đầu tiên về phong tục tập quán và ngôn ngữ tương tác xã hội. Khi trở về Anh vào năm 1988, Helen làm nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Đại học Lancaster về quan niệm của người Trung Quốc và người Anh trong mối quan hệ giữa giáo viên hướng dẫn và thực tập sinh sau đại học. Sau đó bà trở thành giảng viên của Đại học Bedfordshire. Helen bắt đầu một dự án hợp tác nghiên cứu với Trường Đại học Kinh tế Quốc tế tại Bắc Kinh về các mối quan hệ kinh doanh Trung Quốc-Anh, và điều này đã làm nảy sinh một số vấn đề giao tiếp hấp dẫn, kích thích sự quan tâm của bà về lĩnh vực này hơn nữa. Năm 2002, Helen đã được bổ nhiệm (thay mặt cho Vương quốc Anh) quản lý Chương trình eChina-UK Programme, và bắt đầu đặt trụ sở tại Đại học Cambridge. Bà làm việc cho Đại học Warwick từ năm 2007, và trở thành giám đốc của Trung tâm Ngôn ngữ Ứng dụng của Đại học Warwick. Helen đã được công bố nhiều công trình về lĩnh vực truyền thông liên văn hóa. Các cuốn sách liên quan bao gồm Tương tác liên văn hoá: Một cách tiếp cận đa ngành (đồng tác giả với Peter Franklin, Palgrave, 2009), Diễn ngôn Văn hoá: Văn hóa, Truyền thông và Lịch sự (Continuum, 2000 và 2008), Sổ tay Giao tiếp Liên văn hóa (đồng biên tập với Helga Kotthoff, Mouton de Gruyter, 2007), và Các sáng kiến học tập bằng điện ở Trung Quốc: Sư phạm, chính sách và Văn hóa (Hồng Kông University Press, 2007). Bà còn công bố hang loạt bài viết trong các tạp chí, bao gồm cả Tạp chí Pragmatics, Tạp chí Intercultural Studies, Multilingua, tạp chí Truyền thông Châu Á Thái Bình Dương và Tạp chí Tâm lý học Liên văn hóa. Mới đây, bà đã tham gia nghiên cứu giảng dạy các kỹ năng liên văn hóa trong các trường học ở một loạt quốc gia châu Âu.

References

1. Adler, N. (1997) International Dimensions of Organizational Behavior. 3rd ed. Ohio: South-Western College Publishing.

2. Apte, M. (1994) Language in sociocultural context. In: R. E. Asher (Ed.), The Encyclopedia of Language and Linguistics. Vol.4 (pp. 2000-2010). Oxford: Pergamon Press.

3. Avruch, K. (1998) Culture and Conflict Resolution. Washington DC: United States Institute of Peace Press.

4. Ferraro, G. (1998) The Cultural Dimension of International Business. 3rd Edition. New Jersey: Prentice Hall.

5. Hofstede, G. (1991/1994) Cultures and Organizations: Software of the Mind. London: HarperCollinsBusiness.

6. Hofstede, G. (2001) Culture's Consequences. Comparing Values, Behaviors, Institutions, and Organizations across Nations. 2nd ed. London: Sage.

7. Lustig, M. W., & Koester, J. (1999) Intercultural Competence. Interpersonal Communication across Cultures. 3rd ed. New York: Longman.

8. Matsumoto, D. (1996) Culture and Psychology. Pacific Grove, CA: Brooks/Cole.

9. Saville-Troike, M. (1997) The ethnographic analysis of communicative events. In: N. Coupland and A. Jaworski (eds) Sociolinguistics. A Reader and Coursebook. pp.126–144. Basingstoke:

10. Macmillan. Smith, P. B., & Bond, M. H. (1998) Social Psychology across Cultures. London: Prentice Hall Europe.

11. Schein, E. (1984) Coming to a new awareness of organizational culture. Sloan Management Review 25(2): 3–16.

12. Schein, E. (1990) Organizational culture. American Psychologist 45(2): 109–119.

13. Spencer-Oatey, H. (2008) Culturally Speaking. Culture, Communication and Politeness Theory. 2nd edition. London: Continuum.

14. Triandis, H. C. (1994) Culture and Social Behavior. New York: McGraw Hill. 15. Trompenaars, F., & Hampden-Turner, C. (1997) Riding the Waves of Culture. Understanding Cultural Diversity in Business. 2nd ed. London:

16. Nicholas Brealey. Žegarac, V. (2007). A cognitive pragmatic perspective on communication and culture. In H. Kotthoff & H. Spencer-Oatey (Eds.), Handbook of Intercultural Communication. Berlin: Walter de Gruyter, 31–53.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nho giáo Hàn Quốc/ Phần 2. Thời kì Goryeo (918–1392)

Tân Nho giáo/Neo-Confucianism/ Tống Nho/ Trịnh Ngọc Linh Tổng hợp

Trần Hưng Đạo/Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam / Liam Kelly/ Trịnh Ngọc Linh dịch